Thứ năm, 17/06/2021 02:21:09 (GTM +7)

Một số giải pháp bảo vệ và phát triển di sản lý luận của V.I. Lênin trong tình hình mới

Tóm tắt: V.I. Lênin (22/4/1870 - 21/01/1924) là nhà hoạt động chính trị kiệt xuất, nhà triết học lỗi lạc, lãnh tụ thiên tài của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trên toàn thế giới. Người đã để lại cho nhân loại một di sản tư tưởng đồ sộ và toàn diện trên nhiều lĩnh vực, có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc. Chủ nghĩa Lênin nói riêng và chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung đã trở thành nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hành động của Ðảng Cộng sản Việt Nam và cách mạng Việt Nam. Trên cơ sở làm rõ bản chất khoa học, cách mạng trong quan điểm, tư tưởng của V.I. Lênin; khái quát sự vận dụng sáng tạo, bổ sung, phát triển những di sản tư tưởng của V.I. Lênin và đánh giá tổng quan những thành tựu sau 35 năm đổi mới đất nước, bài viết đưa ra một số giải pháp cơ bản nhằm tiếp tục bảo vệ, phát triển chủ nghĩa Lênin trong điều kiện lịch sử cụ thể ở Việt Nam hiện nay.

Từ khóa: tư tưởng lý luận của Lênin; thực tiễn cách mạng Việt Nam; chủ nghĩa xã hội

1. Di sản tư tưởng lý luận của V.I. Lênin

V.I. Lênin (Vladimir Ilyich Lenin) tên thật là Vladimir Ilyich Ulyanov, sinh ngày 22/4/1870 ở Simbirsk (nay là Ulianovsk) trong một gia đình trí thức tiến bộ. Là học trò trung thành và xuất sắc của C. Mác và Ph. Ăngghen, V.I. Lênin đã vận dụng sáng tạo học thuyết thiên tài của C. Mác vào thực tiễn cách mạng, không chỉ bảo vệ tinh thần cách mạng, chống lại sự xuyên tạc của bọn cơ hội chủ nghĩa, mà Người còn căn cứ vào những điều kiện lịch sử mới để phát triển, làm phong phú thêm và đưa chủ nghĩa Mác lên một bước lý luận mới. Có thể nói, “Chủ nghĩa Lênin vĩ đại đã đưa lịch sử loài người lên giai đoạn mới - giai đoạn chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản”1. Bản chất khoa học và cách mạng trong di sản tư tưởng của V.I. Lênin được biểu hiện trên nhiều phương diện, có thể khái quát một số nội dung cốt lõi sau đây:

Thứ nhất, V.I. Lênin đã bảo vệ, phát triển sáng tạo các nguyên lý của chủ nghĩa Mác, đặc biệt là các nguyên lý, quy luật của chủ nghĩa xã hội khoa học. Người nhắc nhở: “Phải luôn luôn tuyên truyền, bảo vệ khỏi mọi sự xuyên tạc và phát triển hơn nữa hệ tư tưởng của giai cấp vô sản - học thuyết chủ nghĩa xã hội khoa học, tức là chủ nghĩa Mác”2. V.I. Lênin đã quán triệt sâu sắc, bổ sung, phát triển sáng tạo học thuyết Mác từ chính thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước Nga Xôviết: “Chúng ta không hề coi lý luận của Mác như là một cái gì đã xong xuôi hẳn và bất khả xâm phạm; trái lại, chúng ta tin rằng lý luận đó chỉ đặt nền móng cho môn khoa học mà những người xã hội chủ nghĩa cần phải phát triển hơn nữa về mọi mặt, nếu họ không muốn trở thành lạc hậu đối với cuộc sống”3. Thực tiễn cách mạng, những biến đổi của đời sống kinh tế, chính trị - xã hội và đặc điểm của từng quốc gia, dân tộc chính là căn cứ để V.I. Lênin vận dụng, bổ sung, phát triển lý luận mácxít. Người nhấn mạnh quan điểm khoa học - thực tiễn về chủ nghĩa xã hội: “Không có lý luận cách mạng thì cũng không thể có phong trào cách mạng”4. Những bổ sung, phát triển của V.I. Lênin được thể hiện trên nhiều bình diện: về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, về cách mạng vô sản, về chuyên chính vô sản và dân chủ vô sản, về vấn đề dân tộc, về bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa... Đặc biệt, quan điểm duy vật biện chứng, duy vật lịch sử và quan điểm về sự phát triển của chủ nghĩa Mác luôn được V.I. Lênin quán triệt và áp dụng triệt để.

Thứ hai, V.I. Lênin đã xây dựng lý luận kinh điển về Đảng kiểu mới của giai cấp công nhân. Người đã có những cống hiến lý luận to lớn về các nguyên tắc tổ chức sinh hoạt Đảng, về công tác tư tưởng, lý luận của Đảng và về việc tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất của người cán bộ, đảng viên. Người đã chuẩn bị về mặt chính trị, tư tưởng và tổ chức cho việc thành lập Đảng Bônsêvích Nga, lãnh đạo nhân dân Nga làm nên cuộc Cách mạng Tháng Mười vĩ đại. Người chỉ rõ: “Chỉ đảng nào được một lý luận tiên phong hướng dẫn thì mới có khả năng làm tròn vai trò chiến sĩ tiên phong”5, đồng thời Người cũng đưa ra cảnh báo nguy cơ của một Đảng là sai lầm về đường lối và quan liêu, xa rời quần chúng, kiêu ngạo cộng sản. Người nhấn mạnh, Đảng phải thực hiện dân chủ trong nội bộ, thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ, chống mọi biểu hiện bè phái: “Phải đuổi cổ ra khỏi Đảng những kẻ gian giảo, những đảng viên cộng sản đã quan liêu hóa, không trung thực, nhu nhược”6. Mặt khác, V.I. Lênin đã đấu tranh không khoan nhượng với các trào lưu cơ hội, xuyên tạc những nguyên tắc xây dựng Đảng mácxít. Người không những đã tổ chức, rèn luyện Đảng Bônsêvích Nga lớn mạnh, mà còn tạo dựng cơ sở lý luận cho việc xây dựng Đảng Cộng sản, khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản - nhân tố quyết định sự thắng lợi của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội: “Không có một đảng sắt thép được tôi luyện trong đấu tranh, không có một đảng được sự tín nhiệm của tất cả những phần tử trung thực trong giai cấp, không có một đảng biết nhận xét tâm trạng của quần chúng và biết tác động vào tâm trạng đó thì không thể tiến hành thắng lợi cuộc đấu tranh ấy được”7.

Thứ ba, V.I. Lênin đã vận dụng, bổ sung, phát triển sáng tạo lý luận mácxít về quy luật cách mạng không ngừng. Từ thực tiễn của nước Nga đương đại, V.I. Lênin đã bổ sung, phát triển và làm sinh động thêm lý luận về quá trình chuyển biến từ cách mạng dân chủ tư sản lên cách mạng dân chủ tư sản kiểu mới: “Từ cách mạng dân chủ, chúng ta sẽ bắt đầu… chuyển ngay lên cách mạng xã hội chủ nghĩa. Chúng ta chủ trương làm cách mạng không ngừng. Chúng ta quyết không dừng lại nửa chừng”8, trên cơ sở hoàn thành các nhiệm vụ dân tộc, dân chủ tiến lên làm cách mạng xã hội chủ nghĩa. Cống hiến to lớn này của V.I. Lênin đã giúp vạch ra con đường cách mạng ở nhiều quốc gia, khu vực khác nhau. Đặc biệt, Người đã vạch ra con đường cách mạng vô sản, lãnh đạo thành công cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại, dẫn đến sự ra đời của nhà nước công - nông đầu tiên trên thế giới, mở ra thời kỳ lịch sử mới - thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Trong di sản tư tưởng, lý luận của V.I. Lênin về cách mạng vô sản, Người đã chỉ ra một chân lý vĩ đại, đó là sự nghiệp giải phóng giai cấp vô sản không thể tách rời sự nghiệp giải phóng các dân tộc bị áp bức: “Không có sự đồng tình và ủng hộ của đại đa số nhân dân lao động… đối với giai cấp vô sản thì cách mạng vô sản không thể thực hiện được”9. Người cũng đã bổ sung thêm vào câu khẩu hiệu cách mạng nổi tiếng của C. Mác và Ph. Ăngghen từ: “Vô sản tất cả các nước liên kết lại” thành: “Vô sản tất cả các nước và các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại”.

Thứ tư, V.I. Lênin đã tổng kết thực tiễn để phát triển lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Từ thực tiễn sinh động của cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước Nga Xôviết, nhiều vấn đề mới về chủ nghĩa xã hội và xây dựng chủ nghĩa xã hội đã được V.I. Lênin bổ sung, phát triển sáng tạo: “Tất cả các dân tộc đều sẽ đi lên chủ nghĩa xã hội, đó là điều không thể tránh khỏi, nhưng tất cả các dân tộc đều tiến tới chủ nghĩa xã hội không phải một cách hoàn toàn giống nhau. Mỗi dân tộc sẽ đưa đặc điểm của mình vào hình thức này hay hình thức khác của chế độ dân chủ, vào loại này hay loại khác của chuyên chính vô sản, vào nhịp độ này hay nhịp độ khác của việc cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với các mặt khác nhau của đời sống xã hội”10. Đặc biệt, V.I. Lênin đã chỉ rõ tính phức tạp, lâu dài của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, nhất là đối với hình thức quá độ gián tiếp, vì vậy, phải kiên nhẫn bắc những “nhịp cầu nhỏ”, vừa tầm, lựa chọn những giải pháp trung gian, quá độ phù hợp: “Về lý luận, không thể nghi ngờ gì được rằng giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa cộng sản, có một thời kỳ quá độ nhất định… Thời kỳ quá độ ấy không thể nào lại không phải là một thời kỳ đấu tranh giữa chủ nghĩa tư bản đang giãy chết và chủ nghĩa cộng sản đang phát sinh”11. Có thể nói, V.I. Lênin là “tổng công trình sư” đầu tiên của những phương hướng, kế hoạch xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên bang Xôviết, trong đó đặc biệt là việc hoạch định Chính sách kinh tế mới (NEP).

Thứ năm, V.I. Lênin đã phát triển lý luận về xây dựng nền dân chủ và nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Từ thực tiễn xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa và chính quyền của Nhà nước Xôviết, Người đã hiện thực hóa quan điểm mácxít trong xây dựng, phát huy cao độ dân chủ xã hội chủ nghĩa gắn với xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trên cơ sở kế thừa và vượt qua pháp quyền tư sản: “Chế độ dân chủ vô sản so với bất cứ chế độ dân chủ tư sản nào, cũng dân chủ hơn gấp triệu lần; chính quyền xô viết so với nước cộng hòa tư sản dân chủ nhất thì cũng dân chủ hơn gấp triệu lần”12. Một chế độ dân chủ thực sự, dân chủ toàn diện, dân chủ cho đa số, dân chủ trên cơ sở bảo đảm các quyền dân sinh, nâng cao dân trí, phát huy dân trí gắn với dân quyền đã trở thành những đóng góp về lý luận - thực tiễn của V.I. Lênin trong quá trình xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa: “Chỉ có chủ nghĩa cộng sản mới có thể đưa lại một chế độ dân chủ thật sự hoàn bị”13. Đồng thời, V.I. Lênin chỉ rõ, nhà nước xã hội chủ nghĩa vừa là cơ quan quyền lực, vừa là bộ máy chính trị, hành chính, vừa là tổ chức quản lý của nhân dân, được xây dựng theo tinh thần “thà ít mà tốt”.

2. Di sản tư tưởng của V.I. Lênin với thực tiễn cách mạng Việt Nam
“Khi còn sống, Người là người cha, thầy học, đồng chí và cố vấn của chúng ta. Ngày nay, Người là ngôi sao sáng chỉ đường cho chúng ta đi tới cuộc cách mạng xã hội”14. Tên tuổi và sự nghiệp của V.I. Lênin gắn với những cống hiến to lớn của Người trong việc bảo vệ, vận dụng, bổ sung và phát triển sáng tạo lý luận mácxít nhằm xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội trong phạm vi từng nước và trên thế giới. Trong lúc đất nước đang bế tắc về đường lối chính trị, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã xác định con đường của cách mạng Việt Nam và từng bước truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước ở Việt Nam, dẫn tới sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam - nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng: “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”15. “Chủ nghĩa Lênin đối với chúng ta, những người cách mạng và nhân dân Việt Nam, không những là cái “cẩm nang” thần kỳ, không những là cái kim chỉ nam, mà còn là mặt trời soi sáng con đường chúng ta đi tới thắng lợi cuối cùng, đi tới chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản”16. Trong 91 năm qua, Đảng ta đã vận dụng sáng tạo những di sản tư tưởng của V.I. Lênin phù hợp thực tiễn cách mạng Việt Nam, lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Tiêu biểu là thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; là đại thắng mùa Xuân năm 1975, từ đó đi đến thống nhất đất nước. Đặc biệt, “nhìn lại 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội,... Đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện so với những năm trước đổi mới… Đất nước chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”17.

Hiện nay, tình hình quốc tế có những diễn biến phức tạp. Các Đảng mácxít đã và đang thông qua tổng kết thực tiễn để làm sáng tỏ lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Khẳng định bản chất khoa học và cách mạng trong di sản lý luận của V.I. Lênin, nhưng không được tuyệt đối hóa nó, bởi những tư tưởng của Người là học thuyết mở, đòi hỏi phải không ngừng được bổ sung, tự đổi mới, tự phát triển trong quá trình phát triển của trí tuệ nhân loại. Trải qua hơn 20 năm đầu thế kỷ XXI, tư tưởng của V.I. Lênin luôn được Đảng ta quán triệt, khẳng định: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”18. Để kiên định và bảo vệ di sản lý luận của V.I. Lênin nói riêng, của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, bên cạnh coi đó là một nhiệm vụ trọng yếu để giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng, cần tập trung thực hiện có hiệu quả một số giải pháp cơ bản sau:

Một là, kiên định và không ngừng vận dụng sáng tạo, bổ sung, phát triển di sản lý luận của V.I. Lênin nói riêng, của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung phù hợp với bối cảnh mới của tình hình thế giới và thực tiễn đất nước. Đây là giải pháp cốt lõi, bảo đảm sức sống và bản chất cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Theo đó, trước hết cần chú trọng thực hiện Nghị quyết số 37-NQ/TW, ngày 09/10/2014 của Bộ Chính trị (khóa XI) về công tác lý luận và định hướng nghiên cứu đến năm 2030 để triển khai nghiên cứu lý luận gắn với Quy định số 285-QĐ/TW, ngày 25/4/2015 của Bộ Chính trị (khóa XI) về dân chủ trong nghiên cứu lý luận chính trị trong các cơ quan đảng, nhà nước. Tiếp tục đẩy mạnh học tập và triển khai Chỉ thị số 23-CT/TW, ngày 09/02/2018 của Ban Bí thư (khóa XII) về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả học tập, nghiên cứu, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới, coi đây là nội dung quan trọng hàng đầu trong công tác xây dựng Đảng về mặt tư tưởng, vừa có vai trò nền tảng, vừa có vị trí then chốt trong tình hình hiện nay. Tăng cường và đổi mới việc tổng kết thực tiễn, nghiên cứu, phát triển lý luận để nhận thức sâu sắc, bổ sung, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam. Quán triệt sâu sắc, bổ sung, phát triển sáng tạo ngay trong việc làm sáng tỏ hơn mô hình xã hội chủ nghĩa với “8 đặc trưng”19 ở Việt Nam… Thường xuyên đổi mới, tạo môi trường khuyến khích sáng tạo trong hoạt động nghiên cứu lý luận chính trị; tôn trọng, tiếp thu và sử dụng có hiệu quả kết quả tổng kết thực tiễn.

Hai là, tăng cường công tác tư tưởng một cách toàn diện, sâu sắc, có tính hệ thống, tạo sự thống nhất cao về ý chí, hành động, bảo vệ và giữ vững nền tảng tư tưởng của Đảng. Công tác tư tưởng, lý luận là một bộ phận đặc biệt quan trọng trong toàn bộ hoạt động của Đảng, thể hiện vai trò đi trước, mở đường trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Vì vậy, phải đề cao việc thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW, ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị (khóa XII) về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay và Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Tập trung triển khai toàn diện, sâu rộng Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị (khóa XII) về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới trên cơ sở quán triệt sâu sắc, vận dụng đúng đắn, sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn Việt Nam. Chú trọng vận dụng chủ nghĩa Lênin trong xây dựng đường lối, chủ trương của Ðảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, trong xây dựng thể chế và nguyên tắc tổ chức hoạt động của toàn hệ thống chính trị… Thường xuyên đổi mới nội dung, phương thức tuyên truyền, chú ý phát huy sức mạnh tổng hợp của báo chí, truyền thông, tuyên truyền miệng và các kênh thông tin khác gắn với nâng cao tính thuyết phục, tính chiến đấu và tính hấp dẫn của công tác tư tưởng trên báo chí, Internet và mạng xã hội. Mỗi cán bộ, đảng viên phải không ngừng học tập nâng cao trình độ, năng lực, bản lĩnh chính trị…, từ đó vận dụng sáng tạo vào quá trình công tác và thực tiễn cuộc sống, kiên quyết đấu tranh với các luận điệu sai trái, phản động.

Ba là, tiếp tục đổi mới mạnh mẽ công tác giáo dục lý luận chính trị về nội dung, chương trình, hình thức và phương pháp giảng dạy trong hệ thống giáo dục. Công tác giáo dục lý luận chính trị là một bộ phận quan trọng trong công tác tư tưởng của Đảng, nhằm giác ngộ lý tưởng cách mạng, nâng cao nhận thức chính trị, thống nhất ý chí và hành động của cán bộ, đảng viên và nhân dân trong thực hiện thắng lợi nhiệm vụ cách mạng trong mỗi thời kỳ. Vì vậy, cần đẩy mạnh triển khai Kết luận số 94-KL/TW, ngày 28/3/2014 của Ban Bí thư (khóa XI) về tiếp tục đổi mới học tập lý luận chính trị trong hệ thống giáo dục quốc dân. Tập trung xây dựng chương trình, nội dung đào tạo lý luận chính trị phù hợp với từng đối tượng và từng cấp học, bậc học, ngành học, đảm bảo tính liên thông. Chú trọng giáo dục lý luận chính trị cho thế hệ trẻ, góp phần làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, quan điểm của Đảng giữ vai trò chủ đạo trong đời sống xã hội. Xây dựng, đào tạo và phát triển đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn cao, có năng lực nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn thuộc các chuyên ngành Triết học, Kinh tế chính trị học, Chủ nghĩa xã hội khoa học, Tư tưởng Hồ Chí Minh, Xây dựng Đảng, Chính trị học và một số chuyên ngành khác nghiên cứu chuyên sâu về đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Trong đó, chú trọng đào tạo đội ngũ chuyên gia đầu ngành có bản lĩnh chính trị vững vàng, tư duy sáng tạo và trình độ lý luận cao, am hiểu tình hình trong nước và thế giới, có năng lực gắn lý luận với thực tiễn, nghiên cứu và tổng kết thực tiễn tốt để chứng minh tính đúng đắn, tính cách mạng và tính khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chứng tỏ sự vận dụng đúng đắn, sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thực tiễn cách mạng cũng như trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Bốn là, thường xuyên nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, đấu tranh phản bác kịp thời các quan điểm sai trái, thù địch, giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng. Hiện nay, cần tăng cường thực hiện cơ chế phối hợp và trao đổi thông tin, chủ động nắm bắt âm mưu, thủ đoạn, phương thức chống phá của các thế lực thù địch, các đối tượng cơ hội chính trị. Chủ động xây dựng kế hoạch, luận cứ đấu tranh, phản bác các luận điệu sai trái, xuyên tạc và tạo sự thống nhất trong phối hợp giữa các cơ quan, ban, ngành có liên quan trên cả ba lĩnh vực lý luận chính trị, tư tưởng - văn hóa và văn học - nghệ thuật. Trong đó, các cơ quan thông tấn, báo chí từ Trung ương đến địa phương cần tiếp tục xây dựng chuyên trang, chuyên mục tuyên truyền sát hợp thực tế về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; phòng, chống âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”… Nhận diện và kiên quyết phòng, chống, ngăn chặn các luận điệu sai trái như phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, “cực đoan hóa” tư tưởng Hồ Chí Minh,… Chỉ rõ và vạch trần thủ đoạn thổi phồng những sơ hở, yếu kém trong công tác lãnh đạo, quản lý kinh tế - xã hội của các thế lực thù địch, phản động nhằm kích động tâm lý bất mãn, chống đối, chia rẽ khối đoàn kết toàn dân.

Hiện nay, các thế lực thù địch vẫn đang ra sức chống phá, phủ nhận vai trò của V.I. Lênin đối với cách mạng thế giới. Song, với bản chất cách mạng, khoa học và thực tiễn lịch sử không thể phủ nhận, tư tưởng của V.I. Lênin vẫn đang hiện hữu và có sức sống mãnh liệt trong trái tim, khối óc của hàng triệu người trên thế giới. Yêu cầu cấp thiết đặt ra hiện nay là phải tiếp tục nghiên cứu, vận dụng, bổ sung và phát triển sáng tạo di sản tư tưởng của Người nhằm thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới. 

1, 14, 15, 16. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, t. 13, tr. 384; t. 1, tr. 257; t. 2, tr. 289; t. 12, tr. 563.

2, 4, 5. V.I. Lênin: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, t. 6, tr. 336, 30, 32.

3, 6, 7, 8, 10, 12. V.I. Lênin: Toàn tập, Sđd, t. 4, tr. 232; t. 44, tr. 154; t. 42, tr. 34; t.11, tr. 281; t. 30, tr. 160; t. 37, tr. 312-313. 

9, 11, 13. V.I. Lênin: Toàn tập, Sđd, t. 39,  tr. 251, 309 - 310, 251.

17. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 103-104.

18, 19. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr. 88, 70.

THIẾU TÁ, ThS. NGUYỄN QUANG BÌNH

Trường Sĩ quan Chính trị, Bộ Quốc phòng

THIẾU TÁ, ThS. BÙI XUÂN HỢI 

Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Lâm Đồng

Chia sẻ:

Ra sức học tập, nỗ lực phấn đấu và rèn luyện, không ngừng làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh 13/06/2021
Ngày 12/6/2021, Ban Bí thư Trung ương Đảng tổ chức Hội nghị toàn quốc sơ kết 5 năm thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW, ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị khóa XII về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, triển khai Kết luận số 01-KL/TW, của Bộ Chính trị khóa XIII về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã tới dự và phát biểu tại Hội nghị. Tạp chí Nhịp cầu Tri thức trân trọng giới thiệu toàn văn bài phát biểu quan trọng của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng: “Ra sức học tập, nỗ lực phấn đấu và rèn luyện, không ngừng làm theo tư tưởng, đạo đức và phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh”.
Tỏa sáng tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, khơi dậy và thực hiện khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc 10/06/2021
Nhân dịp sơ kết 5 năm thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW, ngày 15-5-2016 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, đồng chí Nguyễn Xuân Phúc, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có bài viết với tiêu đề “Tỏa sáng tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, khơi dậy và thực hiện khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”. Tạp chí Nhịp cầu Tri thức trân trọng giới thiệu toàn văn bài viết quan trọng của Chủ tịch nước.
Nguyễn Tất Thành và con đường cứu nước 03/06/2021
Ngày 05/6/1911, tại Bến Nhà Rồng, người thanh niên Việt Nam yêu nước Nguyễn Tất Thành đã lên tàu buôn Đô đốc Latouche Tréville với mong muốn học hỏi những tinh hoa và tiến bộ từ các nước để trở về giúp đỡ, giải phóng đồng bào mình khỏi ách nô lệ của thực dân, đế quốc. Đây là dấu mốc quan trọng, đánh dấu hành trình tìm đường cứu nước của Văn Ba - Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh. Lựa chọn ra đi tìm đường cứu nước của Nguyễn Tất Thành thể hiện sự tiếp bước của cha anh nhưng đầy sáng tạo và đổi mới. Vào thời điểm đó, không ai biết rằng vận mệnh của dân tộc Việt Nam đã gắn liền với quyết định ra đi của một con người mà lịch sử đã chứng tỏ là sáng suốt và phi thường ấy.