Thứ năm, 17/06/2021 02:39:51 (GTM +7)

Bảo đảm phúc lợi xã hội trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng

Phúc lợi xã hội là một bộ phận thu nhập quốc dân được sử dụng nhằm thỏa mãn những nhu cầu vật chất và tinh thần của các thành viên trong xã hội, chủ yếu được phân phối lại, ngoài phân phối theo lao động. Bảo đảm phúc lợi xã hội cho người dân luôn được Đảng và Nhà nước Việt Nam coi trọng. Đại hội XIII của Đảng đã có bước phát triển mới về nhận thức lý luận và định hướng chính sách đối với vấn đề phúc lợi xã hội trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Bảo đảm phúc lợi xã hội cho người dân luôn được Đảng và Nhà nước Việt Nam coi trọng (Trong ảnh: Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thăm, tặng quà bệnh nhân đang điều trị tại Khoa Thận nhân tạo, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Kạn). Ảnh: TTXVN

Đại hội XIII của Đảng đề cập với mức độ nhiều hơn, tần suất dày hơn, có cách tiếp cận đa chiều, toàn diện hơn về phúc lợi xã hội

Điều dễ nhận thấy là mức độ, tần suất đề cập về phúc lợi xã hội (PLXH) trong các văn kiện Đại hội XIII1 nhiều hơn, dày hơn so với văn kiện Đại hội Đảng những nhiệm kỳ gần đây. Riêng Báo cáo chính trị Đại hội XIII của Đảng 8 lần nêu khái niệm “phúc lợi xã hội”2. Phúc lợi xã hội bao trùm, xuyên qua nhiều vấn đề từ phân bổ nguồn lực trong nền kinh tế thị trường; mối quan hệ nhà nước, thị trường và xã hội; bảo đảm quyền tiếp cận của người dân đối với các dịch vụ công cộng; vai trò và trách nhiệm của Nhà nước trong quá trình đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động khu vực dịch vụ sự nghiệp công; phát triển giáo dục, văn hóa, y tế; quản lý phát triển xã hội; chăm lo các giai tầng xã hội, như công nhân, nông dân, trí thức, người có công với cách mạng, đồng bào dân tộc thiểu số... Khái niệm “phúc lợi xã hội” xuất hiện với tần suất dày hơn, số lần nhiều hơn trong các văn kiện Đại hội XIII của Đảng không phải ngẫu nhiên, mà phản ánh những nhận thức  cách tiếp cận mới của Đảng ta đối với vấn đề đặc biệt quan trọng này.

Một là, tiếp cận từ phương thức bảo đảm thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội trong nền kinh tế thị trường (KTTT) định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) dựa trên hai trụ cột là PLXH và an sinh xã hội (ASXH) được đặt trong mối quan hệ tương hỗ, bổ sung, liên thông. Điều này khắc phục những quan niệm khác nhau giữa PLXH và ASXH, thậm chí có cả biểu hiện e ngại đề cập đến khái niệm PLXH, đồng nhất “phúc lợi xã hội” với “bao cấp”, xem PLXH chỉ là sự thụ hưởng một chiều thành quả kinh tế. Những quan niệm này chưa làm rõ được cả ASXH và PLXH, mặc dù cùng tham gia thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, nhưng lại đảm đương những chức năng khác nhau. Nếu như ASXH với trụ cột là bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế (trong lưới an sinh còn nhấn mạnh bảo đảm việc làm bền vững), có mục tiêu duy trì thu nhập và bù đắp thiếu hụt thu nhập khi gặp rủi ro, chủ yếu dựa trên cơ chế tài chính đóng - hưởng và chia sẻlàm cho con người không rơi vào cùng cực, thì PLXH lại hướng đến những mục tiêu rộng lớn hơn.

Tính hướng đích của PLXH là: (1) Thực hiện công bằng về phân phối kết quả sản xuất thông qua việc phân phối lại, giảm thiểu phân tầng quá lớn về thu nhập trong xã hội phát sinh từ phân phối lần đầu; (2) Bảo đảm công bằng về cơ hội phát triển nhờ bảo đảm quyền tiếp cận ngang bằng nhau của mọi thành viên xã hội đối với các dịch vụ xã hội cơ bản, thiết yếu, có ý nghĩa tạo nền tảng cho sự phát triển của mỗi cá nhân con người; (3) Thúc đẩy tiến bộ xã hội khi toàn dân đều được thụ hưởng PLXH, làm cho chỉ số hạnh phúc nâng cao hơn, bình đẳng giới tốt hơn, người có thu nhập thấp không bị “nghèo hóa” do không phải chi tiêu tài chính quá lớn cho việc thụ hưởng các dịch vụ công cộng. Trụ cột của PLXH chính là các dịch vụ công cộng cơ bản, thiết yếu miễn phí hoặc phí sử dụng thấp (giáo dục, y tế, văn hóa...); phúc lợi công nhân (nhà ở xã hội cho công nhân, thiết chế văn hóa công nhân, chế độ nghỉ dưỡng, tiền thưởng); các phúc lợi cộng đồng.

Trong nền KTTT, PLXH không thụ hưởng một chiều thành quả kinh tế, chi tiêu cho PLXH không hẳn là “bao cấp” mà là đầu tư cho phát triển con người, phát triển hạ tầng xã hội, nhất là trong điều kiện nguồn nhân lực trở thành nguồn lực quan trọng bậc nhất cho phát triển kinh tế tri thức, kinh tế số. Phúc lợi xã hội tiến bộ, hiệu quả, chất lượng còn có ý nghĩa bảo đảm xã hội phát triển trong trật tự ổn định, ngăn ngừa các nguy cơ xung đột xã hội nảy sinh do bất công xã hội. Với vai trò, chức năng rộng lớn như vậy, PLXH và ASXH bổ sung cho nhau, cùng thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, góp phần bảo đảm giữ vững định hướng XHCN.

Cần tách bạch, phân biệt PLXH với ASXH trong nghiên cứu, nhưng khi thiết kế chính sách, cần tránh chia cắt cơ học, mà giữa PLXH và ASXH cần phải lồng ghép, tích hợp, đan xen, tạo nên mối quan hệ tương hỗ, liên thông, bổ sung cho nhau. Hệ thống PLXH tiến bộ, nhân văn, hiệu quả góp phần thúc đẩy diện bao phủ và nâng cao chất lượng ASXH. Chẳng hạn, hệ thống giáo dục miễn phí, có chất lượng, giúp người trưởng thành có cơ hội tìm kiếm được việc làm, nhờ đó có thu nhập ổn định và có điều kiện mua các loại bảo hiểm; hoặc sự hỗ trợ ngân sách cho người nghèo mua bảo hiểm y tế khiến cho việc thực hiện bao phủ bảo hiểm y tế toàn dân sớm đạt được mục tiêu...

Hai là, tiếp cận dựa trên quyền con người được sống trong ấm no, tự do, hạnh phúc mà bảo đảm PLXH là một nội dung cơ bản. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng nêu một trong các nhiệm vụ trọng tâm của nhiệm kỳ 2021-2025 là “khơi dậy khát vọng đất nước phát triển phồn vinh, hạnh phúc..., nâng cao chất lượng cuộc sống và chỉ số hạnh phúc của con người Việt Nam”3.

Thực tiễn công nghiệp hóa và phát triển KTTT cho thấy, nhiều quốc gia có tổng thu nhập quốc dân và thu nhập bình quân theo đầu người cao nhưng người dân vẫn không cảm thấy hạnh phúc; ngược lại, có những quốc gia đang phát triển, có thu nhập bình quân đầu người chưa cao, nhưng lại có chỉ số hạnh phúc cao nhất thế giới (như Butan). Dù chưa có một bộ tiêu chí thống nhất về chỉ số hạnh phúc quốc gia và hạnh phúc cá nhân con người, nhưng nhìn chung, chỉ số hạnh phúc hướng vào đo lường các tiến bộ, công bằng xã hội nhờ bảo đảm PLXH và ASXH, nhất là sức khỏe (gồm cả sức khỏe tâm lý và sức khỏe thể chất), chăm sóc y tế, hài hòa giữa đời sống vật chất và đời sống văn hóa tinh thần; hài hòa giữa thời gian lao động và nghỉ ngơi; cơ hội tiếp cận dịch vụ giáo dục, văn hóa, y tế (miễn phí hoặc phí sử dụng thấp); có mức thu nhập nhất định bảo đảm đời sống, không bị rơi vào nghèo cùng cực; đa dạng văn hóa và con người được sống trong môi trường văn hóa lành mạnh; đa dạng sinh thái và con người sống, lao động hài hòa với thiên nhiên; tuổi thọ cao nhưng sức khỏe tốt; con người được tự do, lao động, sáng tạo theo đúng năng lực, sở trường, có điều kiện khẳng định mình; con người được sống trong môi trường an toàn, an ninh, không bị bất cứ mối đe dọa nào...

Chỉ số hạnh phúc dù được diễn giải, bổ sung theo cách nào thì cốt lõi của nó vẫn là bảo đảm phúc lợi cho người dân. Ngay từ khi Nhà nước cách mạng Việt Nam được thiết lập, sau khi khẳng định chính thể, quốc hiệu “Việt Nam Dân chủ Cộng hòa” là tiêu ngữ Độc lập - Tự do - Hạnh phúc và Chủ tịch Hồ Chí Minh gọi đó là “ba chính sách lớn”. Sau ngày đất nước thống nhất (năm 1975), dù quốc hiệu được đổi thành “Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, nhưng tiêu ngữ này vẫn được giữ nguyên. Kế thừa và vận dụng, phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện mới, Đại hội XIII của Đảng nêu “khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”.

Ba là, tiếp cận PLXH từ quan điểm hiệu quả gắn với phát triển nền KTTT định hướng XHCN. Bảo đảm PLXH luôn cần đến nguồn lực tương ứng, Báo cáo chính trị tại Đại hội XIII xác định: “Thị trường đóng vai trò quyết định trong xác định giá cả hàng hóa, dịch vụ; tạo động lực huy động, phân bổ hiệu quả các nguồn lực”4, “Thực hiện giá theo cơ chế thị trường đối với hàng hóa, dịch vụ, kể cả giá dịch vụ công cơ bản”5, “Các nguồn lực kinh tế của Nhà nước được sử dụng phù hợp với chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển đất nước và cơ bản được phân bổ theo cơ chế thị trường”6.

Những luận điểm nêu trên hàm nghĩa rằng: (i) Chỉ trên cơ sở nền KTTT năng động, hiệu quả, thúc đẩy tăng trưởng cao liên tục thì mới bảo đảm nguồn thu ngân sách để chi tiêu cho PLXH; (ii) Nguồn lực được huy động, sử dụng cho PLXH cần vận dụng cơ chế thị trường phù hợp mới bảo đảm tính hiệu quả, tránh để phục hồi “bao cấp”, tạo tâm lý ỷ lại, trông chờ của người dân, thông qua một loạt đổi mới, như không lồng ghép chính sách xã hội trong giá, hướng trọng tâm đầu tư vào đối tượng thụ hưởng hơn là bao cấp cho đơn vị cung ứng dịch vụ công, tăng tính cạnh tranh (gồm cả cạnh tranh trong khu vực công và cạnh tranh giữa khu vực công với khu vực tư) để nâng cao chất lượng dịch vụ; (iii) Nguồn lực công phục vụ cho mục tiêu bảo đảm PLXH phải được phân bổ, sử dụng theo kế hoạch, quy hoạch; (iv) Giá dịch vụ phải theo thị trường, kể cả giá dịch vụ công; những giá hoặc phí có tính chất giá của các đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ phải được tính đúng, tính đủ theo cơ chế thị trường.

Cách tiếp cận này cho phép mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng PLXH mà vẫn thúc đẩy tính năng động của người dân, của các chủ thể cung ứng, không dẫn tới phục hồi bao cấp, nguồn lực sử dụng có hiệu quả, khiến cho PLXH tham dự tích cực vào tạo nền tảng cho phát triển kinh tế.

Bốn là, tiếp cận từ yêu cầu giữ vững định hướng XHCN trong quá trình đổi mới. Càng phát triển KTTT càng đặt ra yêu cầu phải giữ vững định hướng XHCN, mà ở đó, bảo đảm PLXH chính là một phương thức quản trị mục tiêu XHCN trong từng bước đi của công cuộc đổi mới. Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh phải: “Xử lý tốt những bất cập của cơ chế thị trường, bảo đảm phúc lợi xã hội và an sinh xã hội...”7. Điều này xuất phát từ thị trường thường dẫn tới ngoại ứng tiêu cực, thông tin bất cân xứng, phân hóa giàu nghèo, nếu không chăm lo PLXH gắn với tăng cường trách nhiệm của Nhà nước sẽ dẫn tới những hệ lụy khó lường. Các lực lượng thị trường bao giờ cũng tìm cách tối đa hóa lợi nhuận, thậm chí hy sinh các lợi ích công cộng (như gây ô nhiễm môi trường, không quan tâm đến an toàn sức khỏe người dân, phân hóa giàu nghèo...); giành lấy lợi thế thông tin để thúc đẩy lợi nhuận, hy sinh lợi ích của khách hàng (như dịch vụ y tế nếu bị thả nổi theo thị trường thì thông tin duy nhất chỉ do thầy thuốc đưa ra gắn với chỉ định y tế, còn người bệnh không có thông tin về tật bệnh của mình); phân phối theo hiệu quả kinh tế, vốn đóng góp, khiến cho một bộ phận kém may mắn, thiếu cơ hội tiếp cận nguồn lực bị rơi xuống hố nghèo, bị bỏ lại phía sau trong quá trình phát triển.

Vì vậy, chăm lo PLXH gắn với tăng cường trách nhiệm của Nhà nước là cách góp phần sửa chữa khuyết tật của thị trường, bù đắp những thiếu hụt cho những người bị ảnh hưởng từ phân bổ nguồn lực theo cơ chế thị trường, nhất là trước ngoại ứng tiêu cực và thông tin bất cân xứng. Hệ thống PLXH tiến bộ, hiệu quả (giáo dục tiểu học, trung học miễn phí; bảo hiểm y tế toàn dân; y tế công cộng tốt; giá dịch vụ khám và chữa bệnh được kiểm soát có hiệu quả bởi vai trò Nhà nước; phát triển nhà ở xã hội giá rẻ...) không chỉ bảo đảm quyền tiếp cận công bằng các dịch vụ xã hội cơ bản, thiết yếu, mà còn không làm “nghèo hóa” đối tượng thụ hưởng. Nhiều PLXH còn mang chức năng ASXH, như hỗ trợ ngân sách nhà nước cho người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số mua bảo hiểm y tế khi thu nhập gia đình thấp hoặc người dân chưa có thói quen tự nguyện mua bảo hiểm cần hỗ trợ “làm mồi” từ phía Nhà nước trong giai đoạn nhất định. Những việc làm tiến bộ, nhân văn, hiệu quả nêu trên không chỉ làm cho PLXH mang ý nghĩa định hướng XHCN, mà còn là cách thức quản trị mục tiêu XHCN, làm cho các giá trị tốt đẹp, nhân văn của chủ nghĩa xã hội được kết cấu hóa vào cuộc sống thường nhật mà mỗi người dân được thụ hưởng, chứng thực.

Thăm khám bệnh cho đồng bào các dân tộc thiểu số. Ảnh: Tư liệu

Bảo đảm phúc lợi xã hội dựa trên cơ sở phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, được đặt và xử lý trong mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội, trong đó Nhà nước đóng vai trò chủ đạo

Một là, bảo đảm PLXH trong điều kiện hiện nay cần dựa trên cơ sở phát triển nền KTTT định hướng XHCN. Đây là điểm khác căn bản với PLXH trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung trước đây được thực hiện bằng vai trò tuyệt đối của Nhà nước, thông qua hình thức “bao cấp”, phủ nhận vai trò của thị trường. Sau 35 năm đổi mới, chúng ta đã rút ra được nhiều bài học có giá trị, trong đó có bài học phải tôn trọng các quy luật kinh tế khách quan mới cho phép giải phóng tối đa sức sản xuất, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo nguồn thu để bảo đảm chi tiêu cho PLXH và chỉ đặt trong nền KTTT định hướng XHCN mới khiến cho việc chi tiêu cho PLXH thật sự mang ý nghĩa đầu tư cho phát triển. Nhấn mạnh điều này để thấy rằng, nếu không dựa trên một nền kinh tế năng động, phát triển, sản xuất bảo đảm cân đối giữa tích lũy và tiêu dùng, thì khó nói đến xây dựng một hệ thống phúc lợi chất lượng, hiệu quả, dù có thể phình to về mặt quy mô mà không đi kèm với cải thiện về mặt chất lượng phúc lợi. Cần tránh vết xe đổ của các mô hình bảo đảm PLXH chỉ quan tâm đến phân phối kết quả sản xuất mà không tìm được phương thức thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, vừa gây tâm lý dựa dẫm, ỷ lại, trì trệ của người dân, vừa khiến cho PLXH không mang ý nghĩa đầu tư cho phát triển.

Do vậy, từ khi bắt đầu đổi mới đến nay, khi bàn đến các giải pháp thúc đẩy công cuộc đổi mới đi vào chiều sâu, Đảng ta đều nhấn mạnh đến tính thống nhất giữa chính sách kinh tế với chính sách xã hội, bảo đảm PLXH và ASXH phải gắn với hoàn thiện thể chế KTTT định hướng XHCN. Tăng trưởng kinh tế tự nó không mang lại PLXH cho người dân, mà tùy thuộc vào quan điểm tiến bộ của Nhà nước gắn với vai trò, trách nhiệm cụ thể để phân phối lại thành quả tăng trưởng kinh tế, làm cho mọi thành phần dân cư đều được thụ hưởng PLXH. Đại hội XIII của Đảng trong khi xác định thị trường đóng vai trò quyết định trong huy động, phân bổ nguồn lực đã khẳng định phải: “Nhận thức đầy đủ và bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa trong các chính sách xã hội. Tăng cường quản lý phát triển xã hội, bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội, tính bền vững trong các chính sách xã hội, nhất là phúc lợi xã hội, an ninh xã hội, an ninh con người”8.

Hai là, Nhà nước đóng vai trò chủ đạo, trong bảo đảm PLXH, vừa khẳng định bản chất tốt đẹp của chế độ XHCN, vừa sửa chữa thất bại của thị trường và bù đắp những thiếu hụt sau khi phân phối lần đầu. (i) Sử dụng thể chế, chính sách, kế hoạch để thúc đẩy PLXH; bảo đảm điều tiết hợp lý giữa tăng trưởng kinh tế và phân bổ thành quả tăng trưởng kinh tế cho thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội; kế hoạch phát triển kinh tế luôn hướng tới mục tiêu xã hội, lấy phát triển xã hội, phát triển con người làm động lực cho phát triển kinh tế; quy hoạch phát triển chung, phát triển từng ngành, lĩnh vực, địa bàn phải tính toán đầy đủ, hài hòa giữa đầu tư cho tăng trưởng kinh tế và bảo đảm PLXH, nhất là khi cân đối nguồn lực tài chính, quy hoạch sử dụng đất. (ii) Cơ cấu lại mức chi ngân sách, như Phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021-2025 xác định: “Tiếp tục cơ cấu lại chi ngân sách nhà nước theo hướng bền vững, tăng tỷ trọng chi đầu tư phát triển, giảm tỷ trọng chi thường xuyên, hỗ trợ thực hiện hiệu quả các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội... Đổi mới, xây dựng, hoàn thiện thể chế về quản lý ngân sách nhà nước nhằm tăng cường hiệu quả phân bổ, quản lý, sử dụng nguồn lực tài chính ngân sách nhà nước gắn với quá trình cơ cấu lại nền kinh tế”9. Chi cho PLXH phải được xem là đầu tư phát triển. Chi cho phát triển giáo dục, y tế, văn hóa, khoa học - công nghệ, giao thông công cộng, nhà ở xã hội... phải được nâng dần lên cùng với tốc độ tăng trưởng kinh tế. Cùng với tài chính, đất đai cũng là nguồn lực quan trọng cần được sử dụng hợp lý để mở rộng và nâng cao PLXH, như ưu đãi về đất đai cho mở trường học, bệnh viện hoạt động theo nguyên tắc phi lợi nhuận, phát triển nhà ở xã hội, xây dựng công viên, cây xanh, mở rộng giao thông đô thị, nông thôn... Nhà nước còn phải đảm đương vai trò “đầu tư công dẫn dắt đầu tư tư” để thu hút, lôi kéo tư nhân tham gia mở mang PLXH, nhất là những dịch vụ xã hội có giá trị gia tăng, như giáo dục đại học; dịch vụ khám, chữa bệnh theo yêu cầu; văn hóa - giải trí; bóng đá... (iii) Nhà nước với vai trò là chủ thể quản lý, phải có trách nhiệm kiểm soát chất lượng dịch vụ, quản lý các hoạt động thu phí, lệ phí và quản lý giá, không để vận hành theo thị trường tự do đối với những dịch vụ công cộng cơ bản, thiết yếu. Trụ cột của PLXH là các dịch vụ công cộng miễn phí hoặc phí sử dụng thấp, nhiều dịch vụ do Nhà nước đứng ra trực tiếp cung ứng, nhưng vẫn xảy ra tình trạng “phụ thu”, thực chất là “phí trá hình”, phải được kiểm soát, chấn chỉnh kịp thời. Những dịch vụ công cộng ủy quyền cho khu vực ngoài nhà nước cung ứng, nếu không có kiểm soát giá dịch vụ từ phía Nhà nước sẽ dẫn tới tự do hóa, làm mất đi tính chất PLXH, khiến cho tính tự phát của thị trường phát tác, người thu nhập thấp sử dụng dịch vụ bị “nghèo hóa”. Vì vậy, quản lý nhà nước đóng vai trò rất quan trọng nhằm giữ đúng tính chất PLXH, bao gồm từ quản lý chất lượng dịch vụ và quản lý giá dịch vụ, giá thiết bị (như giá thuốc và thiết bị trong lĩnh vực y tế; giá sách giáo khoa trong giáo dục; giá nhà ở xã hội;...). (iv) Trách nhiệm của Nhà nước là tạo môi trường cho cạnh tranh trong khu vực công và cạnh tranh giữa khu vực công với khu vực tư để tìm động lực cho các chủ thể cung ứng nâng cao chất lượng dịch vụ.

Ba là, doanh nghiệp - chủ doanh nghiệp có vai trò quan trọng tham gia mở mang PLXH theo định hướng Đại hội XIII là “Khuyến khích doanh nhân thực hiện trách nhiệm xã hội và tham gia phát triển xã hội”10 với việc nâng cao phúc lợi công nhân, đầu tư phát triển các dịch vụ xã hội hoạt động theo nguyên tắc phi lợi nhuận và thực hiện trách nhiệm xã hội. Trong cơ chế kế hoạch hóa, Nhà nước ủy quyền cho các doanh nghiệp chăm lo nhiều phúc lợi công nhân, như nhà ở, chế độ ăn trưa, nghỉ dưỡng, tổ chức nhà trẻ tại doanh nghiệp... Trong nền KTTT, cùng với thúc đẩy văn hóa doanh nghiệp, chủ doanh nghiệp cần đổi mới tư duy quản trị, coi việc nâng cao phúc lợi cho công nhân chính là đầu tư cho phát triển nguồn nhân lực, trích một phần lợi nhuận để cải thiện phúc lợi công nhân, như xây dựng nhà ở xã hội cho công nhân mua hoặc thuê giá rẻ, đầu tư phát triển các thiết chế văn hóa, dịch vụ xã hội cho công nhân, cải thiện chế độ ăn trưa, nghỉ ngơi, lương, thưởng... Nhà nước ưu tiên cho mời gọi các nhà đầu tư đáp ứng tốt các tiêu chuẩn môi trường, bảo đảm phúc lợi công nhân, lấy mặt bằng đất xây dựng nhà ở xã hội cho công nhân làm công cụ ưu đãi thu hút đầu tư từ các doanh nghiệp đề cao văn hóa kinh doanh. Ngoài ra, Nhà nước cần dành nguồn ngân sách đầu tư cho phát triển hạ tầng (điện, cấp - thoát nước, giao thông, trường học, trạm xá) đối với các khu vực được quy hoạch phát triển nhà ở xã hội dành cho công nhân để “làm mồi”, giúp doanh nghiệp giảm được chi phí đầu tư xây dựng nhà ở xã hội; cần khuyến khích các doanh nghiệp có mức tích lũy lớn chuyển một phần vốn sang đầu tư phát triển các dịch vụ xã hội hoạt động theo nguyên tắc phi lợi nhuận thông qua các chính sách miễn thuế, ưu đãi thu hút đầu tư.

Bốn là, xã hội có vai trò rất quan trọng tham gia bảo đảm PLXH. Báo cáo chính trị tại Đại hội XIII về yêu cầu hoàn thiện thể chế KTTT định hướng XHCN đã nhấn mạnh: “Các tổ chức xã hội có vai trò tạo sự liên kết, phối hợp hoạt động, giải quyết những vấn đề phát sinh giữa các thành viên; đại diện và bảo vệ lợi ích của các thành viên trong quan hệ với các chủ thể, đối tác khác; cung cấp dịch vụ hỗ trợ cho các thành viên; phản ánh nguyện vọng, lợi ích của các tầng lớp nhân dân với Nhà nước và tham gia phản biện luật pháp, cơ chế, chính sách của Nhà nước, giám sát các cơ quan và đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước trong việc thực thi pháp luật”11Phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021-2025 nêu cụ thể hơn: “Đổi mới mạnh mẽ hơn phương thức quản lý nhà nước về kinh tế theo hướng chuyển giao những công việc nhà nước không cần thiết phải làm cho các tổ chức xã hội, chuyển đổi cung cấp trực tiếp dịch vụ công sang phương thức đặt hàng”12. Theo tinh thần đó, PLXH chỉ được bảo đảm khi có sự tham gia tích cực từ phía xã hội, cụ thể là các tổ chức xã hội, đơn vị sự nghiệp khu vực ngoài nhà nước hoạt động theo nguyên tắc phi lợi nhuận, gia đình, cá nhân người sử dụng dịch vụ. Nhà nước có thể đặt hàng cho các tổ chức xã hội, các đơn vị sự nghiệp những dịch vụ công cơ bản, thiết yếu, không phân biệt khu vực nhà nước hay khu vực ngoài nhà nước. Có cơ chế, chính sách khuyến khích những người có thu nhập cao, yêu nghề, đam mê với sự nghiệp, góp vốn để phát triển các trường học, bệnh viện, quỹ khoa học, trung tâm bảo trợ xã hội hoạt động theo nguyên tắc phi lợi nhuận. Hộ gia đình sử dụng dịch vụ công cộng do Nhà nước, doanh nghiệp hay cộng đồng đứng ra cung ứng phải hình thành thói quen sử dụng tiết kiệm, tránh lãng phí, mà chấp nhận tự nguyện đóng phí là cách khiến người tiêu dùng dịch vụ sử dụng tính cực, có trách nhiệm, không trông chờ, ỷ lại. Nhà nước hỗ trợ cho hộ gia đình, cá nhân có hoàn cảnh khó khăn mua bảo hiểm y tế (PLXH mang chức năng an sinh), nhưng đó chỉ là “làm mồi” khi thu nhập còn thấp, điều kiện kinh tế còn eo hẹp, nhưng khi thu nhập cá nhân tăng lên thì phải thay đổi thói quen chuyển sang mua bảo hiểm tự nguyện. Từng gia đình phải hình thành cơ cấu chi tiêu phù hợp, kết hợp giữa phúc lợi gia đình truyền thống với tham dự có hiệu quả vào hệ thống phúc lợi do Nhà nước và xã hội bảo đảm, nhất là sử dụng nguồn tài chính của gia đình như là “vốn đối ứng” để thụ hưởng PLXH hiệu quả, không hoàn toàn ỷ lại vào Nhà nước và xã hội. Cùng với đó, phải phát huy đầy đủ vai trò của các tổ chức xã hội trong giám sát, phản biện xã hội, góp phần nâng cao chất lượng PLXH.

Giáo dục miễn phí là nội dung quan trọng hàng đầu của phúc lợi xã hội, bảo đảm nguồn nhân lực có chất lượng và hạ tầng xã hội cho phát triển đất nước, thúc đẩy công bằng về cơ hội phát triển đối với mọi thành viên xã hội (Trong ảnh: Niềm vui ngày tốt nghiệp). Ảnh: Tư liệu

Phúc lợi xã hội bao trùm và xuyên qua nhiều lĩnh vực rộng lớn, nhưng tập trung vào những khâu trọng yếu là bảo đảm các nhu cầu cơ bản, thiết yếu như giáo dục, y tế, văn hóa, nhà ở xã hội, giao thông công cộng, phúc lợi công nhân

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã đề cập phạm vi PLXH rất rộng, bao gồm nhiều lĩnh vực, trong đó đặc biệt nhấn mạnh việc bảo đảm những nhu cầu cơ bản, thiết yếu của nhân dân như nhà ở, đi lại, giáo dục, y tế, việc làm...13.

Giáo dục miễn phí là nội dung quan trọng hàng đầu của PLXH, bảo đảm nguồn nhân lực có chất lượng và hạ tầng xã hội cho phát triển đất nước, thúc đẩy công bằng về cơ hội phát triển đối với mọi thành viên xã hội. Đại hội XIII của Đảng nêu định hướng “Xây dựng và triển khai lộ trình tiến tới miễn học phí đối với học sinh phổ thông, trước hết đối với học sinh tiểu học và trung học cơ sở”14 và trong quá trình đổi mới hệ thống giáo dục quốc dân, cần đặc biệt chú trọng giáo dục mầm non và tiểu học15, bởi đây là những bậc học nền tảng, chứa đựng đậm nét tính chất phúc lợi. Gắn với những định hướng chính sách nêu trên, cần “tiếp tục tăng đầu tư cho giáo dục và đào tạo gắn với đổi mới cơ chế, chính sách để nâng cao hiệu quả đầu tư” và “Hoàn thiện cơ chế, chính sách để đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục đúng hướng, hiệu quả”16. Việc tăng mức đầu tư cho giáo dục, tiến tới xóa học phí đối với các bậc tiểu học, trung học đã nhấn mạnh đến tính chất, chức năng PLXH khi sử dụng tài chính ngân sách chi tiêu cho giáo dục. Khi toàn dân được hưởng nền giáo dục cơ bản, thiết yếu, không học phí đồng nghĩa với tạo cơ hội phát triển cho mọi người, nhất là người có thu nhập thấp vẫn có cơ hội ngang bằng với người có thu nhập cao trong tiếp cận dịch vụ giáo dục. Thực chất của giáo dục miễn học phí là Nhà nước chuyển một lượng cung tiền mặt vào hộ gia đình, hay còn gọi là Nhà nước trả phí thay cho người học, giúp người nghèo có điều kiện dành thu nhập eo hẹp của mình để chi tiêu cho các hàng hóa, dịch vụ khác, nâng cao chất lượng sống, nhờ đó mà việc học tập của con cái không trở thành gánh nặng làm nghèo đi gia đình họ. Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh tính hiệu quả khi tăng mức đầu tư cho giáo dục, tức xác định chi ngân sách cho giáo dục là đầu tư cho phát triển, tăng chi là cần thiết nhưng phải bảo đảm chi đúng đối tượng, đúng hạng mục chuyên môn, thay vì chi dựa trên tổng biên chế của từng tổ chức, cơ quan, đơn vị mà không phân khai rõ hiệu quả của đối tượng thụ hưởng. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng cũng nêu rõ, cần thực hiện xã hội hóa giáo dục đúng hướng, mà vấn đề lớn là phân loại rõ đâu là hoạt động giáo dục theo yêu cầu của cá nhân người học cùng khả năng chi trả tài chính tương ứng, đâu là hoạt động giáo dục phi lợi nhuận gắn với cơ chế, chính sách tương ứng của Nhà nước. Đối với hoạt động giáo dục phi lợi nhuận, cần sự hỗ trợ của Nhà nước không chỉ chính sách, mà cả nguồn lực, như mặt bằng đất đai mở trường, miễn thuế cho những trường hợp sử dụng thu nhập cá nhân hoặc tài sản thừa kế để đầu tư cho phát triển giáo dục... Giáo dục mầm non có vai trò đặc biệt quan trọng trong bảo đảm PLXH, có lúc, có nơi đã từng thả nổi cho thị trường, dẫn tới những hệ lụy đáng tiếc, như giáo viên bạo hành trẻ nhỏ, chế độ nuôi dưỡng không bảo đảm dinh dưỡng và vệ sinh, an toàn thực phẩm, thiếu phương pháp, phương tiện phù hợp với đặc điểm “giáo dục sớm”... Trong cơ chế thị trường, cần khuyến khích khu vực ngoài công lập đầu tư phát triển các trường đáp ứng yêu cầu những gia đình có khả năng chi trả tài chính gắn với những điều kiện tốt về cơ sở vật chất trường lớp, thiết bị giáo dục, đưa đón học sinh, chế độ bữa ăn... nhưng các tiêu chuẩn cơ bản (chất lượng giáo viên, tài liệu học tập, bảo đảm vệ sinh, an toàn thực phẩm, điều kiện nuôi dạy...) thì không thể có sự phân biệt giữa khu vực công và khu vực tư.

Hệ thống y tế, chăm sóc sức khỏe bảo đảm phòng ngừa dịch bệnh hiệu quả, đáp ứng nhu cầu khám và chữa bệnh cho người dân mà không làm “nghèo hóa” người có thu nhập thấp, nhờ bảo hiểm y tế toàn dân và giá dịch vụ y tế được kiểm soát bởi vai trò Nhà nước thể hiện tính chất PLXH tiến bộ, hiệu quả và nhân văn. Tinh thần đó đã được nêu rõ trong định hướng mục tiêu của hệ thống y tế là “bảo đảm toàn dân được quản lý, bảo vệ, chăm sóc sức khỏe”17. Y tế công cộng được chú trọng, đầu tư, chăm lo phát triển có vai trò phòng ngừa, giảm thiểu tình trạng tật bệnh, nhất là khắc phục xu hướng gia tăng của tật bệnh do lối sống, sinh hoạt, tập luyện thiếu khoa học (ăn, uống, hút, ngủ, thể dục, thể thao...), do thiếu hài hòa giữa lao động và nghỉ ngơi, cân bằng giữa đời sống vật chất và tinh thần, khiến cho các bệnh lối sống” (béo phì, tim mạch, ung thư, tiểu đường, huyết áp cao, xơ gan...) gia tăng. Trong bối cảnh các bệnh lây nhiễm trong cộng đồng ngày càng diễn biến phức tạp, trở thành mối đe dọa nghiêm trọng đến an ninh con người, hệ thống y tế công cộng có vai trò quyết định phòng ngừa, ngăn chặn hoặc kiểm soát hiệu quả, không để chuyển hóa thành khủng hoảng y tế, mà thực tiễn phòng, chống đại dịch Covid-19 hiện nay là trường hợp điển hình. Đại hội XIII của Đảng nêu rõ “phải nâng cao chất lượng xây dựng và thực hiện hiệu quả các chính sách về dinh dưỡng, an toàn thực phẩm, bảo vệ, chăm sóc sức khỏe và tầm vóc người Việt Nam”18. Muốn xây dựng một hệ thống y tế có khả năng bảo đảm quyền tiếp cận của mọi người dân đối với dịch vụ khám, chữa bệnh mà không làm “nghèo hóa” bản thân họ, Đại hội XIII của Đảng đề ra định hướng “phải đổi mới cơ chế tài chính y tế, hệ thống quản lý và cung cấp dịch vụ y tế”19. Nhà nước phải tập trung đầu tư phát triển hệ thống y tế công cộng đủ năng lực phòng ngừa dịch bệnh; mở rộng phạm vi bao phủ bảo hiểm y tế, kể cả tiếp tục hỗ trợ ngân sách cho người nghèo, người dân tộc thiểu số mua bảo hiểm y tế; quản lý có hiệu quả giá dịch vụ y tế (giá thiết bị y tế, giá thuốc, kiểm soát chỉ định của thầy thuốc về sử dụng công nghệ cao trong khám bệnh...) đối với các bệnh viện công được giao quyền tự chủ cũng như bệnh viện khu vực ngoài nhà nước. Không có lĩnh vực nào lại có tình trạng bất cân xứng thông tin tuyệt đối như lĩnh vực y tế khi mọi thông tin về bệnh tật chỉ bác sĩ được biết, mọi đơn kê sử dụng thuốc đều theo chỉ định của bác sĩ, còn người bệnh không hề biết thông tin về tật bệnh của mình, không được quyền phản hồi ý kiến của mình, hoàn toàn tuân thủ chỉ định của bác sĩ. Diễn ngôn dưới giác độ kinh tế học, trong trường hợp này, khách hàng không hề có được thông tin về dịch vụ mà mình phải tiêu dùng, mọi thông tin đều do người bán hàng nắm giữ, quyết định. Vì thế, để có một hệ thống y tế phản ánh đúng tính chất phúc lợi, không chỉ phải tuyên truyền, giáo dục y đức cho nhân viên y tế, mà phải tăng cường quản lý nhà nước đối với giá dịch vụ y tế, không để thương mại hóa dịch vụ y tế. Đây cũng chính là tinh thần “Thực hiện đúng hướng, hiệu quả xã hội hóa trong lĩnh vực y tế; bảo đảm bình đẳng giữa y tế nhà nước và y tế ngoài nhà nước”20. Điều này sẽ mở ra cơ hội cho phát triển bệnh viện khu vực ngoài nhà nước hoạt động theo nguyên tắc phi lợi nhuận21, gắn với huy động tối đa nguồn lực của doanh nghiệp và xã hội phục vụ sự nghiệp chăm sóc sức khỏe nhân dân.

Phúc lợi văn hóa được bảo đảm bằng phát triển các thiết chế văn hóa mang tính chất dịch vụ công cộng mà người thụ hưởng được miễn phí hoặc phí sử dụng thấp như lễ hội, tham quan các di tích - danh thắng. Ảnh: Tư liệu

Phúc lợi văn hóa của nhân dân được bảo đảm bằng phát huy vai trò của cả Nhà nước, doanh nghiệp và xã hội. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng xác định phải có cơ chế, chính sách, giải pháp để xây dựng môi trường văn hóa trong sạch, lành mạnh, cải thiện điều kiện hưởng thụ văn hóa của nhân dân,... bảo đảm công bằng về cơ hội và thụ hưởng văn hóa22. Phúc lợi văn hóa được bảo đảm bằng phát triển các thiết chế văn hóa mang tính chất dịch vụ công cộng mà người thụ hưởng được miễn phí hoặc phí sử dụng thấp như: truy cập internet, truyền hình, phát thanh, báo in, thư viện, bảo tàng, công viên; được hưởng thụ các giá trị văn hóa cộng đồng, như lễ hội, tham quan các di tích - danh thắng gắn với thực hành nghi thức tín ngưỡng, tôn giáo do cộng đồng tự quản; được tiếp cận các sản phẩm văn hóa, nghệ thuật, thể thao miễn phí qua các kênh truyền thông công cộng. Phải tập trung “Khắc phục sự chênh lệch về trình độ phát triển và đời sống văn hóa giữa các vùng, miền, các giai tầng xã hội, đặc biệt quan tâm đến vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, các khu công nghiệp”... thông qua nhiều chính sách khác nhau, như phát không báo đọc, radio và tiếp cận internet, truyền hình... miễn phí các vùng khó khăn, đầu tư mở rộng các thiết chế văn hóa cộng đồng, thiết chế văn hóa công nhân khu công nghiệp với trách nhiệm của cả Nhà nước, doanh nghiệp và công đoàn.

Nhà ở xã hội và phúc lợi công nhân là vấn đề nổi lên rất bức xúc trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Vì vậy, trong phần trình bày về chính sách với giai cấp công nhân, Báo cáo chính trị Đại hội XIII của Đảng đã nhấn mạnh: “Chăm lo đời sống vật chất, tinh thần, nhà ở và phúc lợi xã hội cho công nhân”23Phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế  - xã hội 5 năm 2021-2025 xác định cụ thể hơn: Phát triển và mở rộng các loại hình nhà ở; đẩy mạnh phát triển nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê, nhà ở giá rẻ, nhà ở cho công nhân các khu công nghiệp; tạo điều kiện khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia phát triển nhà ở theo cơ chế thị trường cho các đối tượng chính sách xã hội. Phấn đấu đến năm 2025, diện tích nhà ở bình quân toàn quốc khoảng từ 27m2 - 27,5m2 sàn/người24. Đây là vấn đề rất lớn của PLXH mà từ sau khi xóa bỏ bao cấp về nhà ở đã bị đẩy sang thị trường, thu nhập của người lao động cả khu vực công và khu vực tư không thể đủ chi phí mua hoặc thuê nhà ở, nhất là công nhân khu công nghiệp, người nhập cư đô thị. Người lao động buộc phải dành phần lớn thu nhập tập trung cho mua hoặc thuê nhà, hạn chế đến khả năng mua hàng hóa, dịch vụ khác để nâng cao chất lượng sống. Do đó, định hướng chính sách của Đại hội XIII đã phản ánh những nhận thức mới về nhà ở xã hội trong bảo đảm phúc lợi cho nhân dân và nêu quyết tâm cao với đa chủ thể tham gia để đạt được mục tiêu đề ra. Trách nhiệm Nhà nước thể hiện ở quy hoạch đất sử dụng cho xây dựng nhà ở xã hội, phải xem đất dành cho phát triển nhà ở xã hội là vì mục tiêu công cộng, mục tiêu xã hội, có tác dụng rất lớn đối với việc giảm giá nhà ở - do giá nhà ở tăng cao chủ yếu do giá đất nhà ở xã hội bị đồng nhất với đất nhà ở thương mại, ít nhận được hỗ trợ từ phía Nhà nước, ít địa phương quy hoạch quỹ đất dành riêng cho xây dựng nhà ở xã hội. Vai trò của Nhà nước trong trường hợp này cực kỳ quan trọng, không chỉ quy hoạch đất dành riêng cho xây dựng nhà ở xã hội, mà còn thực hiện miễn hoặc giảm thuế cho doanh nghiệp tham gia kinh doanh nhà ở xã hội; dành ngân sách đầu tư phát triển hạ tầng điện, đường, trường, trạm và dịch vụ xã hội đồng bộ tại khu vực quy hoạch xây dựng nhà ở xã hội, quản lý giá nhà ở xã hội... Nhờ đó, người thu nhập thấp mới có điều kiện thuê hoặc mua nhà giá cả phù hợp. Doanh nghiệp cần chia sẻ một phần lợi nhuận đầu tư vào xây dựng nhà ở cho công nhân khu công nghiệp, khiến cho giá thuê hoặc mua hợp lý, làm cho chi phí nhà ở không trở thành gánh nặng đối với người có thu nhập thấp. Công đoàn cần phát huy vai trò thương lượng tập thể làm áp lực buộc chủ sử dụng lao động quan tâm đến phúc lợi công nhân, phản biện và giám sát chính quyền xây dựng và tổ chức thực hiện các chính sách phúc lợi công nhân. Quỹ tài chính của Công đoàn cần được tổ chức kinh doanh sinh lời để tham gia hỗ trợ nâng cao phúc lợi công nhân. 

Nếu như PLXH trong chủ nghĩa tư bản nhằm xoa dịu mâu thuẫn giai cấp thì bảo đảm PLXH trong chủ nghĩa xã hội vì con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện. Nhận thức lý luận và định hướng chính sách của Đại hội XIII đã khẳng định mở mang PLXH chính là chăm lo phát triển con người, phát triển hạ tầng xã hội, chi tiêu cho phúc lợi là chi cho đầu tư phát triển, không ngừng nâng cao chất lượng sống và hạnh phúc của nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội trong từng bước đi và từng chính sách phát triển, góp phần giữ vững định hướng XHCN trong quá trình đổi mới đất nước.

1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 65, 86, 102, 116, 133, 147, 149, 166.

2. Thể hiện trong các nội dung sau: “Kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội XII và cơ đồ đất nước sau 35 năm đổi mới (tr. 65, tr. 86, tr. 102), “Định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2021-2030” (tr. 116), “Tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tập trung tháo gỡ các điểm nghẽn” (tr. 133), “Quản lý phát triển xã hội bền vững, bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội” (tr. 147 và tr. 149), “Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc” (tr. 166).

3. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. I, tr. 202.

4, 5, 6. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. I, tr. 131, 132, 129.

7. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. I, tr. 133.

8. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. I, tr, 147-148.

9. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. II, tr. 102.

10. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. I, tr. 168.

11. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. I, tr. 131-132.

12. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t.  II, tr. 98.
13, 14, 15, 16. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. I, tr. 149, 138, 137, 139.

17. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. I, tr. 151.

18, 19, 20. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. I, tr. 151.

21. Bệnh viện phi lợi nhuận không có nghĩa là bệnh viện đó không có lợi nhuận, mà lợi nhuận thu được (sau khi trả lương và trừ các chi phí) không chia cho cổ đông mà được tái đầu tư phát triển sự nghiệp y tế.

22. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. I, tr. 144.

23. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. I, tr. 166.

24. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t.  II, tr. 138.

PGS.TS. ĐOÀN MINH HUẤN

Ủy viên Trung ương Đảng, Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản

Theo https://www.tapchicongsan.org.vn/

 

Chia sẻ:

Ra sức học tập, nỗ lực phấn đấu và rèn luyện, không ngừng làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh 13/06/2021
Ngày 12/6/2021, Ban Bí thư Trung ương Đảng tổ chức Hội nghị toàn quốc sơ kết 5 năm thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW, ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị khóa XII về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, triển khai Kết luận số 01-KL/TW, của Bộ Chính trị khóa XIII về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã tới dự và phát biểu tại Hội nghị. Tạp chí Nhịp cầu Tri thức trân trọng giới thiệu toàn văn bài phát biểu quan trọng của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng: “Ra sức học tập, nỗ lực phấn đấu và rèn luyện, không ngừng làm theo tư tưởng, đạo đức và phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh”.
Tỏa sáng tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, khơi dậy và thực hiện khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc 10/06/2021
Nhân dịp sơ kết 5 năm thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW, ngày 15-5-2016 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, đồng chí Nguyễn Xuân Phúc, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có bài viết với tiêu đề “Tỏa sáng tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, khơi dậy và thực hiện khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”. Tạp chí Nhịp cầu Tri thức trân trọng giới thiệu toàn văn bài viết quan trọng của Chủ tịch nước.
Nguyễn Tất Thành và con đường cứu nước 03/06/2021
Ngày 05/6/1911, tại Bến Nhà Rồng, người thanh niên Việt Nam yêu nước Nguyễn Tất Thành đã lên tàu buôn Đô đốc Latouche Tréville với mong muốn học hỏi những tinh hoa và tiến bộ từ các nước để trở về giúp đỡ, giải phóng đồng bào mình khỏi ách nô lệ của thực dân, đế quốc. Đây là dấu mốc quan trọng, đánh dấu hành trình tìm đường cứu nước của Văn Ba - Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh. Lựa chọn ra đi tìm đường cứu nước của Nguyễn Tất Thành thể hiện sự tiếp bước của cha anh nhưng đầy sáng tạo và đổi mới. Vào thời điểm đó, không ai biết rằng vận mệnh của dân tộc Việt Nam đã gắn liền với quyết định ra đi của một con người mà lịch sử đã chứng tỏ là sáng suốt và phi thường ấy.