Thứ năm, 05/08/2021 13:57:01 (GTM +7)

Giá trị trường tồn của chủ nghĩa Mác - Lê nin - Cấu phần quan trọng trong nền tảng tư tưởng của Đảng

Tóm tắt: Chủ nghĩa Mác - Lênin do C. Mác và Ph. Ăngghen sáng lập vào những năm 40 - 50 của thế kỷ XIX, sau đó được V.I. Lênin bổ sung, phát triển ở cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX. Từ khi chủ nghĩa Mác - Lênin ra đời cho đến nay, nhân loại đã trải qua nhiều biến cố, thăng trầm, song đời sống xã hội vẫn không nằm ngoài những quy luật phổ biến đã được các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác chỉ ra. Khẳng định giá trị và sức sống trường tồn của chủ nghĩa Mác - Lênin là yêu cầu tất yếu để kiên định bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh chống lại những quan điểm xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin của các thế lực thù địch.

Từ khóa: chủ nghĩa Mác - Lênin; phép biện chứng duy vật; bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

1. Giá trị trường tồn của chủ nghĩa Mác - Lênin

Chủ nghĩa Mác - Lênin là sự hợp thành của ba bộ phận: triết học Mác - Lênin, kinh tế chính trị Mác - Lênin và chủ nghĩa xã hội khoa học. Trong đó, triết học Mác - Lênin nghiên cứu những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy con người; kinh tế chính trị Mác - Lênin nghiên cứu những quy luật kinh tế cơ bản của xã hội, đặc biệt là xã hội tư bản chủ nghĩa; chủ nghĩa xã hội khoa học nghiên cứu con đường, cách thức, động lực để xây dựng chủ nghĩa xã hội. Giá trị trường tồn của chủ nghĩa Mác - Lênin được thể hiện trên cả ba bộ phận cấu thành của nó.

Thứ nhất, chủ nghĩa Mác - Lênin là thế giới quan khoa học và phương pháp luận biện chứng trong nhận thức và cải tạo thế giới

Trong lịch sử trước Mác, đã có rất nhiều nhà tư tưởng lý giải về sự vận động và phát triển của tự nhiên, xã hội và con người ở những góc độ khác nhau, song do hạn chế về thời đại và lập trường tư tưởng mà những quan điểm ấy có khi là sai lầm, phiến diện. Trên cơ sở kế thừa những thành tựu về khoa học tự nhiên và lý luận của các bậc tiền bối, C. Mác và Ph. Ăngghen đã đưa ra những quan điểm đúng đắn trên lập trường duy vật biện chứng, cung cấp thế giới quan khoa học và phương pháp luận biện chứng trong nhận thức và cải tạo thế giới. Điều này đã được V.I. Lênin chỉ rõ: “Toàn bộ thiên tài của Mác chính là ở chỗ ông đã giải đáp được những vấn đề mà tư tưởng tiên tiến của nhân loại nêu ra... Học thuyết của Mác là học thuyết vạn năng vì nó là một học thuyết chính xác. Nó là một học thuyết hoàn bị và chặt chẽ; nó cung cấp cho người ta một thế giới quan hoàn chỉnh, không thỏa hiệp với bất cứ một sự mê tín nào, một thế lực phản động nào, một hành vi nào bảo vệ sự áp bức của tư sản”1. Chính nhờ thế giới quan khoa học, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác đã gắn triết học, gắn lý luận cách mạng với đời sống thực tiễn, khắc phục sự đối lập giữa lý luận với thực tiễn của các nhà triết học trước đó: “Giống như triết học thấy giai cấp vô sản là vũ khí vật chất của mình, giai cấp vô sản cũng thấy triết học là vũ khí tinh thần của mình, và chỉ cần sấm sét của tư tưởng đánh một cách triệt để vào cái mảnh đất nhân dân còn nguyên vẹn ấy là việc giải phóng người Đức thành con người sẽ hoàn thành”2, “Đầu não của sự giải phóng ấy là triết học, trái tim của nó là giai cấp vô sản. Triết học không thể trở thành hiện thực nếu không xóa bỏ giai cấp vô sản; giai cấp vô sản không thể xóa bỏ được bản thân mình nếu không làm cho triết học biến thành hiện thực”3. Quan điểm này cho thấy giá trị thực tiễn của chủ nghĩa Mác, đồng thời tạo nên điểm khác biệt căn bản giữa chủ nghĩa Mác với những tư tưởng triết học trước đó, như C. Mác đã viết trong một luận điểm nổi tiếng: “Các nhà triết học đã giải thích thế giới bằng nhiều cách khác nhau, song vấn đề là cải tạo thế giới”4. Chức năng “cải tạo thế giới” đã được các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác thực hiện triệt để trong quá trình xây dựng và phát triển học thuyết của mình.

Bên cạnh việc cung cấp thế giới quan khoa học, chủ nghĩa Mác - Lênin còn trang bị cho chúng ta phương pháp luận biện chứng cho việc nhận thức và cải tạo thế giới. Phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác không chỉ tiếp thu những tinh hoa trong tư tưởng biện chứng “ngây thơ”, chất phác thời cổ đại và phép biện chứng của triết học cổ điển Đức, mà còn khắc phục những hạn chế trong những tư tưởng biện chứng đó để xây dựng phép biện chứng duy vật. Như Ph. Ăngghen đã khẳng định, phép biện chứng duy vật là khoa học về những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy. Phép biện chứng duy vật trình bày một cách có hệ thống, chặt chẽ tính chất biện chứng của thế giới thông qua những nguyên lý, quy luật và phạm trù chung nhất của thế giới, “cung cấp cho loài người và nhất là cho giai cấp công nhân những công cụ nhận thức vĩ đại”5. Thông qua phương pháp luận của phép biện chứng duy vật, C. Mác khẳng định: “triết học không hứa hẹn gì cả ngoài chân lý;... triết học không đòi hỏi tin tưởng vào các kết luận của nó, nó đòi hỏi kiểm nghiệm những điều hoài nghi”6. Theo đó, triết học duy vật biện chứng của C. Mác luôn hướng về thực tiễn để hướng dẫn, giải quyết những vấn đề cơ bản và bức thiết do thực tiễn đặt ra. Vì vậy, nó có khả năng tự đổi mới và phát triển, trở thành vũ khí lý luận sắc bén cho con người trong nhận thức và cải tạo thế giới. Thông qua phương pháp luận của phép biện chứng duy vật, lần đầu tiên các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác đã gắn triết học với đời sống hiện thực.

Các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác không chỉ duy vật trong việc nghiên cứu giới tự nhiên mà còn duy vật trong nghiên cứu lịch sử, xã hội loài người. C. Mác là người đầu tiên áp dụng phép biện chứng duy vật do chính ông xây dựng vào việc nghiên cứu lịch sử, khắc phục triệt để quan điểm duy vật nửa vời của triết học trước đó (duy vật khi nghiên cứu về giới tự nhiên, nhưng duy tâm khi nghiên cứu về lịch sử, xã hội). Đúng như Ph. Ăngghen đã khẳng định: “Trên hành tinh của chúng ta, Sác-lơ Đác-uyn đã tìm ra quy luật phát triển của thế giới hữu cơ. Mác đã phát hiện ra quy luật cơ bản chi phối sự vận động và phát triển của lịch sử loài người”7. V.I. Lênin cũng cho rằng: “Chủ nghĩa duy vật lịch sử của Mác là thành tựu vĩ đại nhất của tư tưởng khoa học. Một lý luận khoa học hết sức hoàn chỉnh và chặt chẽ đã thay cho sự lộn xộn và sự tùy tiện, vẫn ngự trị từ trước đến nay trong các quan niệm về lịch sử và chính trị”8. Là người đi sau, V.I. Lênin đã kế thừa học thuyết về hình thái kinh tế - xã hội của C. Mác, đưa những dự báo của C. Mác về một chế độ xã hội mới trong tương lai - chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa trở thành hiện thực bằng thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga (1917) và sự ra đời của nhà nước Xôviết - nhà nước vô sản đầu tiên trên thế giới.

Thứ hai, chủ nghĩa Mác - Lênin là học thuyết đúng đắn về quá trình vận động và phát triển của kinh tế tư bản chủ nghĩa

Cùng với chủ nghĩa duy vật lịch sử, học thuyết giá trị thặng dư là một trong hai phát kiến vĩ đại gắn với tên tuổi của C. Mác. Theo đánh giá của V.I. Lênin, học thuyết giá trị thặng dư là “hòn đá tảng của học thuyết kinh tế của Mác”, là “nội dung căn bản của chủ nghĩa Mác’’. Khi nghiên cứu về xã hội tư bản, C. Mác đã nhận ra rằng, quy luật giá trị thặng dư là quy luật chung, chi phối mọi hoạt động kinh tế của xã hội tư bản ở cả giai đoạn mới ra đời cho đến khi phát triển ở giai đoạn cao. Theo đó, sản xuất và chiếm hữu giá trị thặng dư là hình thức đặc biệt của chủ nghĩa tư bản về sản xuất và chiếm hữu sản phẩm thặng dư, nghĩa là hình thức cao nhất của sự tha hóa con người đối với hoạt động của mình, đối với sản phẩm được làm ra từ hoạt động đó, đối với chính mình và đối với người khác. Có thể nói, với học thuyết giá trị thặng dư, “C. Mác đã tìm ra bí mật của phương thức bóc lột tư bản chủ nghĩa, chỉ ra cơ chế, động lực tồn tại và phát triển của xã hội tư bản là bóc lột giá trị thặng dư”9. C. Mác chỉ rõ, mâu thuẫn cơ bản của xã hội tư bản là mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất xã hội hóa ngày càng cao với chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa đối với tư liệu sản xuất, mâu thuẫn giữa giai cấp công nhân và những người lao động làm thuê với giai cấp tư sản. Trên cơ sở nhận thức đúng đắn về quá trình phát triển của các quan hệ xã hội, C. Mác đã chỉ ra vai trò lịch sử vĩ đại của giai cấp vô sản toàn thế giới với tư cách là lực lượng có khả năng cải tạo tận gốc các quan hệ xã hội, thủ tiêu tình trạng người bóc lột người và xây dựng chế độ xã hội mới, tự giải phóng mình và qua đó giải phóng nhân loại. Cả C. Mác và Ph. Ăngghen đều nhận định rằng, nền công nghiệp hiện đại đã sản sinh, nuôi dưỡng một giai cấp vô sản với những đặc trưng cơ bản: không có tư liệu sản xuất, đối lập với giai cấp tư sản, bị giai cấp tư sản bóc lột ngày càng nặng nề, có tinh thần cách mạng, đoàn kết và có tính tổ chức kỷ luật cao. Bởi vậy, phải là giai cấp vô sản chứ không phải bất kỳ một giai cấp nào khác có sứ mệnh cao cả là “người đào huyệt chôn chủ nghĩa tư bản” để xây dựng một xã hội mới.

Cùng với việc chỉ ra những quy luật vận động của xã hội tư bản, học thuyết Mác - Lênin còn đưa ra những dự báo, tiên đoán về sự ra đời của xã hội tương lai. C. Mác khẳng định: “Sự độc quyền của tư bản trở thành những xiềng xích ràng buộc cái phương thức sản xuất đã thịnh vượng lên cùng với độc quyền đó và dưới độc quyền đó. Sự tập trung tư liệu sản xuất và xã hội hóa lao động đạt đến cái điểm mà chúng không còn thích hợp với cái vỏ tư bản chủ nghĩa của chúng nữa... Phương thức chiếm hữu tư bản chủ nghĩa do phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đẻ ra, và do đó cả chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa nữa đều là sự phủ định đầu tiên đối với chế độ tư hữu cá nhân dựa trên lao động của bản thân. Nhưng nền sản xuất tư bản chủ nghĩa lại đẻ ra sự phủ định bản thân nó, với tính tất yếu của một quá trình tự nhiên. Đó là sự phủ định cái phủ định. Sự phủ định này không khôi phục lại chế độ tư hữu, mà khôi phục lại chế độ sở hữu cá nhân trên cơ sở những thành tựu của thời đại tư bản chủ nghĩa: trên cơ sở sự hiệp tác và sự chiếm hữu công cộng đối với ruộng đất và những tư liệu sản xuất do chính lao động làm ra”10. Nhận định trên cho thấy, C. Mác đã vận dụng triệt để phép biện chứng duy vật khi luận giải về sự ra đời của một chế độ xã hội mới thông qua sự phủ định của các hình thái kinh tế - xã hội. Đó là lý do khẳng định chủ nghĩa Mác - Lênin là một học thuyết phát triển vì nó luôn nghiên cứu xã hội loài người ở trạng thái mầm mống, tương lai.

Thứ ba, chủ nghĩa Mác - Lênin là học thuyết nhân văn, hướng con người đến một xã hội tốt đẹp

Khi mới 17 tuổi, vừa tốt nghiệp trung học, C. Mác đã nêu rõ quan điểm khi chọn nghề: “Nếu chúng ta đã lựa chọn một nghề mà trong đó chúng ta có thể lao động nhiều nhất cho loài người thì chúng ta sẽ không cúi đầu vằn lưng dưới gánh nặng của nó, bởi gánh nặng ấy là sự hy sinh vì mọi người; khi ấy điều chúng ta cảm nhận được không phải là một niềm vui thảm hại, hạn hẹp, vị kỷ, mà niềm hạnh phúc của chúng ta sẽ thuộc về hàng triệu người, lúc đó sự nghiệp của chúng ta sẽ có một cuộc sống thầm lặng nhưng có hiệu lực vĩnh hằng, và những con người cao thượng sẽ rơi những giọt lệ cháy bỏng trước thi hài của chúng ta”11. Tư tưởng đó đã ươm mầm cho tính nhân văn của chủ nghĩa Mác - Lênin sau này. Ngay từ khi mới ra đời, chủ nghĩa Mác - Lênin đã chứa đựng tinh thần nhân văn sâu sắc, bởi các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác không chỉ bàn đến những vấn đề của xã hội hiện tại - xã hội tư bản chủ nghĩa mà còn đề cập đến xã hội tương lai. Đó là xã hội cộng sản chủ nghĩa mà giai đoạn đầu là xã hội xã hội chủ nghĩa.

Khi nói về tính tất yếu ra đời chủ nghĩa xã hội, C. Mác và Ph. Ăngghen viết: “Đối với chúng ta, chủ nghĩa cộng sản không phải là một trạng thái cần phải sáng tạo ra, không phải là một lý tưởng mà hiện thực phải khuôn theo. Chúng ta gọi chủ nghĩa cộng sản là một phong trào hiện thực, nó xóa bỏ trạng thái hiện nay. Những điều kiện của phong trào ấy là do những tiền đề hiện đang tồn tại đẻ ra”12. Như vậy, những tiền đề cho sự ra đời của chủ nghĩa xã hội xuất hiện ngay trong lòng chủ nghĩa tư bản và sự xuất hiện chủ nghĩa xã hội là một tất yếu của lịch sử. Khi nêu lên những đặc trưng của xã hội tương lai, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác đã nhấn mạnh đến việc xóa bỏ chế độ tư hữu, hình thành sở hữu công cộng để tiến tới xóa bỏ chế độ người bóc lột người.

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, mục đích của chủ nghĩa xã hội không phải chỉ là giải phóng “một giai cấp đặc thù” mà là giải phóng toàn xã hội, giải phóng loài người khỏi mọi áp bức, bất công, tha hóa. Chính chủ nghĩa tư bản ở giai đoạn phát triển cao đã chuẩn bị tiền đề cho sự giải phóng ấy. Khát vọng của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác khi xây dựng chủ nghĩa cộng sản là “sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người”. Chính điều này đã làm nên tính nhân văn của chủ nghĩa Mác - Lênin, điều mà trước đó không học thuyết nào làm được. Do đó, những quan điểm phê phán chủ nghĩa Mác - Lênin, cho rằng đó chỉ là quyết định luận kinh tế, ít quan tâm đến vai trò của con người, là “chủ nghĩa lý luận không có con người”, chỉ có con người giai cấp, không có con người cá nhân… là những quan điểm sai lầm, phiến diện nhằm phủ nhận tính nhân văn của chủ nghĩa Mác - Lênin.

Mặc dù, cả C. Mác, Ph. Ăngghen và V.I. Lênin đều không xuất thân từ tầng lớp vô sản nhưng từ tình thương yêu, sự cảm thông đối với người lao động bị bóc lột, họ đã dành trọn cuộc đời mình để đấu tranh giải phóng con người, trước hết là người lao động chiếm đa số, khỏi sự áp bức và tha hóa. C. Mác, Ph. Ăngghen và V.I. Lênin đã tập trung thức tỉnh, giáo dục, tổ chức cho giai cấp vô sản đứng lên giải phóng xã hội, giải phóng con người khỏi áp bức, bóc lột.

Như vậy, tính nhân văn của chủ nghĩa Mác - Lênin được thể hiện ở mục đích vì con người, là tiếng nói bênh vực quần chúng lao động bị áp bức trong xã hội cũ, hướng tới giải phóng con người khỏi áp bức, bất công. Có thể nói, đây là chủ nghĩa nhân văn triệt để (giải quyết vấn đề ở tận gốc rễ là chế độ kinh tế chứ không chỉ giới hạn trong tư tưởng, tinh thần), không phải là sự thương xót ủy mị mà gắn với ý chí cách mạng giải phóng con người khỏi mọi sự áp bức, bất công. Giá trị nhân văn của chủ nghĩa Mác - Lênin được thể hiện cô đọng trong luận điểm: “Chỉ có chủ nghĩa duy vật triết học của Mác là đã chỉ cho giai cấp vô sản con đường phải theo để thoát khỏi chế độ nô lệ về tinh thần, trong đó tất cả các giai cấp bị áp bức đã sống lay lắt từ trước tới nay. Chỉ có học thuyết kinh tế của Mác là đã giải thích được địa vị thực sự của giai cấp vô sản trong toàn bộ chế độ tư bản chủ nghĩa”13. “Sức hấp dẫn không gì cưỡng nổi đã lôi cuốn những người xã hội chủ nghĩa của tất cả các nước đi theo lý luận đó, chính là ở chỗ nó kết hợp tính chất khoa học chặt chẽ và cao độ (đó là đỉnh cao nhất của khoa học xã hội) với tinh thần cách mạng, và kết hợp không phải một cách ngẫu nhiên, không phải chỉ vì người sáng lập ra học thuyết ấy đã kết hợp trong bản thân mình những phẩm chất của nhà bác học và của nhà cách mạng, mà là kết hợp trong chính bản thân lý luận ấy, một sự kết hợp nội tại và khăng khít”14.

2. Tiếp tục khẳng định giá trị trường tồn của chủ nghĩa Mác - Lênin trong giai đoạn hiện nay nhằm góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

Có thể khẳng định, dù đã ra đời cách đây gần 200 năm nhưng chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn có sức sống bền vững và giá trị trường tồn. Sức sống của chủ nghĩa Mác - Lênin được thể hiện ở chỗ, nó đã giải đáp những vấn đề mà tư tưởng tiên tiến của loài người đặt ra, đồng thời soi sáng những nhiệm vụ lịch sử đã chín muồi của nhân loại. Đó là nhiệm vụ giải phóng con người khỏi mọi sự áp bức, bóc lột và tha hóa. Mặc dù, ngay từ khi mới ra đời và cả trong giai đoạn hiện nay, vẫn luôn có nhiều quan điểm phê phán, xuyên tạc nhằm phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, song đây vẫn là một học thuyết khoa học và cách mạng duy nhất có thể đáp ứng mọi yêu cầu của lịch sử - điều mà không một học thuyết nào có thể thay thế được.

Trong thời gian qua, chủ nghĩa Mác - Lênin luôn phải đối mặt với những khó khăn, thử thách do sự chống phá của các thế lực thù địch. Những năm cuối thập kỷ 80, đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX, các nước xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu từng bước rơi vào khủng hoảng và sụp đổ. Trong Thông điệp Liên bang năm 2005, Tổng thống Nga V. Putin gọi đó là “một chấn động chính trị khủng khiếp nhất thế kỷ XX”. Sự sụp đổ này xảy ra ngay tại Liên Xô - quê hương của Cách mạng Tháng Mười Nga, nơi khai sinh ra nhà nước vô sản đầu tiên trên thế giới, nơi được coi là thành trì của chủ nghĩa xã hội hiện thực, đã khiến các học giả tư sản có cơ hội lên tiếng phê phán, bác bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin. Cho đến nay, sau gần 30 năm, các thế lực thù địch vẫn luôn ra sức lợi dụng, xuyên tạc, công kích và phủ định chủ nghĩa Mác - Lênin. Họ cho rằng sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu là một tất yếu lịch sử, vì nó bắt nguồn từ “sự lạc hậu, lỗi thời của bản thân chủ nghĩa Mác - Lênin”, và bởi “Chủ nghĩa xã hội mà Mác nêu ra chỉ là một lý tưởng, một chủ nghĩa xã hội “không tưởng”, không bao giờ thực hiện được”15. Các thế lực thù địch cho rằng, chủ nghĩa xã hội khoa học mà các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác xây dựng nên chỉ là một học thuyết “viển vông”, “ảo tưởng”, không thể áp dụng vào thực tiễn... Xuất phát từ lập luận đó, chúng cho rằng hiện nay “Việt Nam đang bế tắc không chỉ về kinh tế, mà còn về tinh thần. Không ai còn tin vào chủ nghĩa Mác nữa”16, “con đường xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta đang đi là trái với quá trình lịch sử - tự nhiên”17. Đó chính là “một khúc cong của lịch sử, là đoạn vòng vèo đầy đau khổ đi lên chủ nghĩa tư bản”18. Do đó, theo họ, Việt Nam cần “tránh chỗ tối, tìm chỗ sáng”, “tránh con đường đau khổ” mà một số nước đã đi qua để đi theo con đường tư bản chủ nghĩa.

Chúng ta không thể phủ nhận rằng, sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu là một bước lùi lịch sử của phong trào cộng sản và phong trào công nhân trên toàn thế giới. Đó cũng là một tổn thất to lớn cho phong trào đấu tranh vì những mục tiêu cao cả và tốt đẹp của nhân loại: hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, tiến bộ xã hội và hạnh phúc của con người. Song, sự sụp đổ đó không phải là sự “cáo chung” của chủ nghĩa Mác - Lênin, không phải do chủ nghĩa Mác - Lênin đã lạc hậu, lỗi thời mà là do Liên Xô và Đông Âu đã hiểu sai, vận dụng sai những quan điểm của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội. Bản chất của chủ nghĩa Mác - Lênin là khoa học và cách mạng. Do đó, đòi hỏi việc nhận thức, vận dụng và phát triển học thuyết này phải đứng vững trên lập trường cách mạng và lập trường của giai cấp công nhân, đồng thời phải thực hiện với một tinh thần và phương pháp khoa học nghiêm túc, đúng đắn.

Những người mácxít thấm thía sâu sắc những tổn thất to lớn từ sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu, nhưng họ cũng nhận ra rằng, điều đó đã khách quan cung cấp thêm dữ liệu để nhận thức, vận dụng và phát triển đúng đắn, sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin phù hợp với điều kiện lịch sử mới. Đồng thời, sự sụp đổ đó cũng cho thấy rõ hơn những sai lầm của Đảng Cộng sản ở các nước xã hội chủ nghĩa trong việc nắm bắt bản chất cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin và việc vận dụng nó vào thực tiễn; tính chất nguy hiểm trong luận điệu của các thế lực thù địch nhằm mục đích phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin trên phạm vi toàn thế giới.

Trong tình hình hiện nay, chính tại các quốc gia tư bản phương Tây, lại xuất hiện những tiếng nói khẳng định giá trị của chủ nghĩa Mác, học thuyết kinh tế của Mác, về phong trào “trở về với C. Mác” và tìm đọc C. Mác. Đặc biệt, thời điểm diễn ra cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu 2008-2009, cuộc khủng khoảng nợ công và suy thoái kinh tế ở nhiều quốc gia tư bản phát triển, phong trào “trở về với C. Mác”, tìm đọc C. Mác trở nên sôi nổi hơn bao giờ hết. Trong những tác phẩm kinh điển của C. Mác và V.I. Lênin, bộ Tư bản của C. Mác là tác phẩm đã được dịch ra 134 ngôn ngữ tại 63 nước19. Có thể nói, chủ nghĩa Mác - Lênin đã làm biến đổi thế giới, thúc đẩy sự phát triển, tiến bộ của lịch sử loài người với sức lôi cuốn và tầm ảnh hưởng sâu rộng đối với toàn nhân loại.

Để bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, một mặt chúng ta cần tỉnh táo để nhận diện những quan điểm sai trái của các thế lực thù địch, mặt khác cần mạnh dạn bổ sung, phát triển những quan điểm của học thuyết này cho phù hợp với thực tiễn. Việc bổ sung, phát triển đó không phải là “xét lại” hay nhằm làm lu mờ giá trị của chủ nghĩa Mác - Lênin, mà là góp phần làm cho những nội dung, quan điểm của học thuyết Mác có sức sống mới, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của giai đoạn hiện nay. Đây là một việc làm hết sức khó khăn, đòi hỏi những người mácxít phải kiên trì, có bản lĩnh và trách nhiệm đối với hệ thống lý luận khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin - nền tảng tư tưởng của Đảng ta hiện nay.

1, 5, 8, 13. V.I. Lênin: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, t. 23, tr. 49-50, 54, 53, 57-58.

2, 3, 6. C. Mác và Ph. Ăngghen: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 1, tr. 589, 589-590, 157.

4, 7, 10, 11, 12. C. Mác và Ph. Ăngghen: Toàn tập, Sđd, t. 3, tr.12; t. 19, tr. 496; t. 23, tr. 1059-1060; t. 40, tr. 18; t. 3, tr. 51.

9. Lê Hữu Nghĩa: Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh với công cuộc đổi mới của Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2017, tr. 101.

14. V.I. Lênin: Toàn tập, Sđd, t. 1, tr. 421.

15, 16. Ban Tuyên giáo Trung ương: Phê phán, bác bỏ các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007, tr. 48.

17. Ban Tuyên giáo Trung ương: Một số vấn đề về chủ nghĩa Mác - Lênin trong thời đại hiện nay, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr. 12.

18. Việt Nam tiến bước cùng thời đại, Nxb. Giáo dục Việt Nam, Hà Nội, 2009, tr. 29.

19. Nguyễn Chí Dũng: “Học thuyết Mác về hình thái kinh tế - xã hội và cuộc thử nghiệm trong thế kỷ XX”, Tạp chí Triết học, số 1 (200), tháng 01/2008, tr. 11.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Nguyễn Trọng Chuẩn: “Nâng cao nhận thức, bổ sung và phát triển triết học Mác - Lênin nhằm đáp ứng yêu cầu của thực tiễn và của thời đại mở rộng giao lưu quốc tế”, Tạp chí Triết học, số 9 (208), tháng 9/2008.

2. Đỗ Minh Hợp: “Triết học Mác và nền văn minh công nghiệp”, Tạp chí Triết học, số 6 (205), 2008.

3. Nguyễn Đức Thắng: “Tính khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin”, Tạp chí Cộng sản, tháng 6/2016.

4. Nguyễn Xuân Thắng: “Phê phán quan điểm: “Sự sụp đổ của Liên Xô và Đông Âu bắt nguồn từ chủ nghĩa Mác - Lênin””, Tạp chí Tuyên giáo, tháng 12/2014.

TS. Lê Thị Chiên

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Chia sẻ:

ASEAN tiến triển tích cực trong xây dựng Cộng đồng trên cả 3 trụ cột 03/08/2021
Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Bùi Thanh Sơn chỉ rõ, ASEAN cần quan tâm hỗ trợ các vùng miền kém phát triển trong ASEAN, bao gồm Tiểu vùng Mê Công, trong thu hẹp khoảng cách phát triển đang gia tăng ở khu vực do ảnh hưởng của đại dịch; đồng thời lồng ghép vấn đề này trong triển khai Kế hoạch công tác sáng kiến hội nhập ASEAN (IAI) giai đoạn IV.
Đoàn kết và thống nhất là nền tảng cho sức mạnh của ASEAN 02/08/2021
Phát biểu tại Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN lần thứ 54, Bộ trưởng Bùi Thanh Sơn nhấn mạnh đoàn kết và thống nhất là nền tảng cho sức mạnh của ASEAN; trước tác động kinh tế - xã hội nặng nề của đại dịch, hơn bao giờ hết, ASEAN cần phát huy mạnh mẽ nội lực của một Cộng đồng tự cường và gắn kết, khẳng định vai trò và trách nhiệm với chính sự phát triển của khu vực.
Kinh tế Việt Nam 6 tháng đầu năm và triển vọng năm 2021 02/08/2021
Đợt bùng phát đại dịch Covid-19 lần thứ tư tại Việt Nam có số ca nhiễm tăng mạnh, khiến Chính phủ và một số địa phương, trong đó có cả ba thành phố lớn là Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng, phải dồn lực thực hiện các biện pháp chống dịch. Tuy vậy, theo báo cáo của Tổng cục Thống kê, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) 6 tháng đầu năm 2021 tăng 5,64%. Đó là kết quả của sự chỉ đạo, điều hành quyết liệt, đúng đắn của Đảng và Chính phủ, sự chung sức, đồng lòng của hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân trong việc thực hiện các nhiệm vụ và giải pháp phát triển kinh tế - xã hội.