Thứ năm, 05/08/2021 13:44:10 (GTM +7)

Vị tướng anh hùng triều Nguyễn đánh pháp giữ thành Hà Nội

Trải qua 53 năm làm quan dưới thời các vua Nguyễn (Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức), Nguyễn Tri Phương đã chỉ huy nhiều trận đánh quan trọng, trong đó, ba lần cầm quân oanh liệt nhất là khi chống trả thực dân Pháp ở Đà Nẵng, Sài Gòn và giữ thành Hà Nội. Trận chiến giữ thành Hà Nội mặc dù không thành công nhưng đã khẳng định khí tiết, chí khí lẫm liệt của Nguyễn Tri Phương. Hình ảnh của vị tướng già quyết tử giữ thành Hà Nội với lời đáp trả đanh thép trước thực dân Pháp “bây giờ nếu ta chỉ lay lắt mà sống, sao bằng thung dung chết vì việc nghĩa” đã thổi bùng lên tinh thần yêu nước và phong trào chống thực dân Pháp từ Bắc đến Nam những năm sau này. Con người đó, tài năng và khí phách đó đúng như Nguyễn Ái Quốc đã từng viết: “Nước ta nhiều kẻ tôi trung/Tấm lòng tiết nghĩa rạng cùng tuyết sương/Hoàng Diệu với Nguyễn Tri Phương/Cùng thành còn mất làm gương để đời”1.
1. Vị tướng xông pha trên nhiều mặt trận 
Nguyễn Tri Phương tên thật là Nguyễn Văn Chương, sinh ngày 09/9/1800, trong một gia đình yêu nước, hiếu học tại làng Đường Long, tổng Chánh Lộc, huyện Phong Điền, phủ Thừa Thiên (nay là làng Chí Long, xã Phong Chương, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế). 
Từ thuở nhỏ, Nguyễn Tri Phương đã sớm bộc lộ tài năng và chí lớn. “Tuy không học về lối cử nghiệp, nhưng các sách Chương Thư, Hiếu Kinh, Luận Ngữ, Tả truyện phàm lời nói hay, việc làm tốt, đáng làm phép tắc thì Phương thường ghi chép cả”2. Trải qua ba triều vua Nguyễn (Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức), Nguyễn Tri Phương được thăng nhiều chức vị quan trọng.
Dưới thời vua Minh Mạng (1820-1841), năm 1835, ông nhận lệnh vào Gia Định cùng Trương Minh Giảng bình định các vùng đất mới khai hoang. Năm 1840, ông được bổ làm Tuần phủ Quảng Nam - Quảng Ngãi, trông coi bố phòng cửa biển Đà Nẵng. Công việc hoàn thành tốt, ông được triệu về kinh thăng Tham tri bộ Công. 
Dưới thời vua Thiệu Trị (1841-1847), Nguyễn Tri Phương được giao quản lý Phủ Nội vụ (1841). Sau đó, ông sang làm quản lý thủy sư Kinh Kỳ (lính thủy) rồi làm Tả Tham tri bộ Công. Năm 1841, vua Thiệu Trị cử Nguyễn Tri Phương làm Tổng đốc An Hà (An Giang - Hà Tiên). Với tài thao lược điều binh, khiển tướng, được nhân dân ủng hộ, ông đã lãnh đạo quân sĩ đánh bại quân Xiêm và thổ phỉ, bình định Chân Lạp, ổn định vùng biên giới Tây Nam, miền Tây Nam Bộ nước ta, được vua Nguyễn ban thưởng và phong danh hiệu An Tây trí dũng tướng. Tháng 5/1847, ông được triệu về kinh, thăng hàm Chánh Hiệp biện Đại học sĩ, lãnh Thượng thư bộ Công đại thần Cơ mật viện, tước Tráng Liệt tử, được ban ngọc bài có khắc bốn chữ “Quân kỳ thạc phụ” và chép công trạng vào bia đá tại Võ miếu (Huế). Sách Đại Nam liệt truyện có ghi: “Khi việc võ cáo thành, vua sai đúc súng lớn ghi công, sắc cho làm bài minh ghi công, khắc tên vào cổ súng đồng Bảo đại định công, dựng bia ở miếu võ”3. Tháng 9/1847, trước khi vua Thiệu Trị mất đã ban chiếu sung Nguyễn Tri Phương làm Phụ chính đại thần. 
Dưới thời vua Tự Đức (1847-1883), Nguyễn Tri Phương và Trương Đăng Quế là hai phụ chính đại thần của vua. Năm 1848, Nguyễn Tri Phương được vua Tự Đức phong tước Tráng Liệt bá. Năm 1850, ông được sung chức Khâm sai Tổng thống Quân vụ Đại thần các tỉnh Gia Định, Biên Hòa, Vĩnh Long, Định Tường, An Giang, Hà Tiên. Năm 1853, ông được thăng Điện hàm Đông các Đại học sĩ, rồi lãnh chức Kinh lược sứ Nam Kỳ. Trong thời gian này, ông có công lập được nhiều đồn điền, khai khẩn đất hoang, nhờ đó người dân được an cư lập nghiệp.
Có thể nói, vai trò trụ cột và sự cống hiến của Nguyễn Tri Phương đối với triều Nguyễn là vô cùng to lớn. Tuy nhiên,  đối với Nguyễn Tri Phương, sự tận trung với triều Nguyễn và sự vinh danh của chế độ này chưa làm nên tên tuổi của ông. Lịch sử biết đến Nguyễn Tri Phương bởi ông là nhân vật gắn liền với bi kịch của đất nước trong suốt ba thập kỷ 50, 60 và 70 của thế kỷ XIX, gắn liền với cuộc kháng chiến chống Pháp oanh liệt và bi tráng của dân tộc trong những năm đầu tiên. Là tổng chỉ huy quân đội triều Nguyễn chống thực dân Pháp xâm lược trên khắp ba miền đất nước, trực tiếp đánh giặc ở các mặt trận Đà Nẵng (1858), Gia Định (1861) và Hà Nội (1873), ở mặt trận nào, Nguyễn Tri Phương cũng thể hiện vai trò của một tổng chỉ huy dũng cảm, trong đó nổi tiếng nhất là trận chiến giữ thành Hà Nội.   
2. Chiến đấu oanh liệt giữ thành Hà Nội 
Tháng 11/1872, dấu hiệu cuộc tấn công Bắc Kỳ của thực dân Pháp xuất hiện khi chúng kết luận sông Hồng là con đường duy nhất để chúng có thể tới Vân Nam (Trung Quốc). Soái phủ Nam Kỳ khuyến khích lái buôn Jean Dupuis có vũ trang4 bất chấp sự ngăn cản của quan quân triều Nguyễn, đi ngược sông Hồng, qua Hà Nội, gây hấn với các đội quân Nguyễn đồn trú.
Trước tình hình đó, Nguyễn Tri Phương được vua Tự Đức phái ra Bắc Thành, làm Tổng thống Quân vụ, trực tiếp chỉ huy giữ thành Hà Nội. Tháng 5/1873, Nguyễn Tri Phương ra đến Hà Nội. Trước thái độ ngang ngược của Dupuis, Nguyễn Tri Phương sử dụng biện pháp cứng rắn. Ông lệnh cho dán bố cáo cấm thuyền muối của Dupuis đi Vân Nam và yêu cầu Dupuis phải lập tức rời khỏi Hà Nội. Dupuis không những không làm theo, mà còn có những hành động khiêu khích, tiếp tục đưa đoàn thuyền muối đi Vân Nam, sau đó cho người đến  yêu cầu Tổng đốc Lưỡng Quảng (Nhà Thanh) và Thống đốc Sài Gòn can thiệp. Tình hình ngày càng căng thẳng. Mặc dù Dupuis liên tục lấn tới nhưng Nguyễn Tri Phương không dám công khai tiêu diệt vì sợ trái lệnh của triều đình. 
Về phần nhà Nguyễn, sau khi nhận được thư của Tổng đốc Lưỡng Quảng, triều đình đã ra lệnh cho Nguyễn Tri Phương để Dupuis được tự do đưa đoàn thuyền muối đi Vân Nam. Thắng thế, trên đường đi, Dupuis ngang nhiên hăm dọa các đồn binh Đại Nam ven sông, phá các kè ngăn sông, bắn giết một số dân phu đang xây đắp đồn lũy.
Sự ngang ngược của Dupuis buộc triều Nguyễn phải yêu cầu Thống đốc Sài Gòn cử người ra Bắc Kỳ bắt Dupuis rời khỏi Hà Nội. Chỉ chờ có thế, năm 1873, Thống đốc Sài Gòn cử Đại úy hải quân Francis Garnier đưa lực lượng gồm 2 pháo thuyền, 1 tàu thủy với 11 súng đại bác và 212 binh sĩ trang bị súng tay đổ bộ ra Bắc Kỳ nhằm đánh chiếm thành Hà Nội. Garnier đưa ra nhiều yêu sách gây áp lực nhằm làm cho Nguyễn Tri Phương và quân Nguyễn nhụt ý chí mà bỏ thành cho chúng, nhưng Nguyễn Tri Phương không hề nao núng, lo sợ, mà cùng binh sĩ quyết tâm chống giặc.
Nhận thấy yêu sách của mình thất bại, 6h sáng ngày 20/11/1873, Garnier lệnh cho Dupuis đưa quân đánh vào cửa Đông và cửa Bắc của thành Hà Nội, riêng quân của Garnier đánh vào cửa Đông Nam, Tây và Tây Nam, trong đó Garnier trực tiếp chỉ huy quân lính tấn công cửa Đông Nam thành Hà Nội. 
Thành Hà Nội khi đó là một công trình kiên cố, được xây dựng dưới thời vua Gia Long. Mặc dù có lực lượng khá lớn binh sĩ triều Nguyễn đóng giữ (7.000 người), nhưng vũ khí được trang bị lại vô cùng thô sơ, chủ yếu là gươm, giáo, mác; một số ít được trang bị súng hỏa mai, nhưng lại không được huấn luyện kỹ năng sử dụng. Thành có nhiều súng thần công, nhưng hầu hết đã han gỉ, không thể phát hỏa.
Garnier cho pháo thuyền tập trung hướng về cửa Đông Nam thành Hà Nội và điều đội quân tinh nhuệ chuẩn bị vượt qua cầu để tiếp cận cửa thành. Mở đầu, pháo thuyền Pháp nã đạn liên tục phá vỡ cửa thành. Hỏa lực đạn pháo khiến thành lũy Hà Nội rung chuyển. Ngay sau đó, quân Pháp vượt cầu tiến vào cửa thành. Trước sự tấn công liên tục của thực dân Pháp, quân Nguyễn chiến đấu rất kiên cường. Nhưng khi các cửa thành khác bị đánh phá, các vị quan có trách nhiệm giữ thành như Tổng đốc Bùi Thức Kiên, Án sát Tôn Thất Trác đều bỏ chạy. Binh lính thấy vậy cũng hoang mang bỏ chạy theo. Nguyễn Tri Phương bị thương nặng. Chỉ sau 1 giờ, quân Pháp với sự hỗ trợ của pháo thuyền hiện đại đã chiếm được thành Hà Nội, bắt giữ hơn 2.000 quân Nguyễn. Sách Đại Nam liệt truyện có ghi: “Tri Phương cùng con là Phò mã Lâm thì giữ cửa Đông Nam thành. Quân Phú (Pháp) phá cửa ấy trước, Lâm bị súng bắn chết, Tri Phương bị thương, thành bị hãm”5.
Mặc dù Nguyễn Tri Phương bị thương nặng nhưng quân Pháp vẫn bắt giữ và tìm cách chữa trị hòng mua chuộc, lợi dụng ông để thuyết phục các lực lượng khác của quân Nguyễn đầu hàng, nhưng Nguyễn Tri Phương từ chối. Ông xé băng vết thương và tuyệt thực để tuẫn tiết: “Tri Phương nằm gan lì ở dinh, tuyệt không ăn uống gì. Bọn quân Pháp coi giữ ở thành ấy thường đem cháo và thuốc đổ cho Phương ăn uống, nhưng Phương nhất thiết đều phun mửa ra. Thong dong nói rằng: nghĩa đáng phải chết. Lúc sắp chết, Phương tắm gội, thay áo, thần sắc vẫn không thay đổi. Phương tuyệt thực từ ngày 1 tháng 10, đến ngày 1 tháng 11 (âm lịch), đầy 1 tháng mới chết, thọ 74 tuổi”6.
Mặc dù bị thất bại trước quân Pháp nhưng Nguyễn Tri Phương được xem là nhân vật chói sáng nhất của triều đại nhà Nguyễn về tinh thần xả thân chống Pháp, bảo vệ nền độc lập cho dân tộc. 
Đối với vua Nguyễn, Nguyễn Tri Phương là bề tôi “tận trung”, được vua Nguyễn vinh thăng các hàm, tước: “An Tây trí dũng tướng”, “Tráng liệt tử”, “Quân kỳ thạc phụ”, “Tráng liệt bá”; được dựng bia ở Võ miếu, khắc tên vào cổ súng đồng - biểu tượng của triều đại nhà Nguyễn ngay từ khi còn sống. Sau khi mất, ông còn được các vua Nguyễn tiếp tục đề cao, được lập bài vị tại các đền thờ cao quý nhất của triều đại. Với đất nước, Nguyễn Tri Phương là người “tận hiến”, lấy tính mạng để thể hiện cốt cách và bày tỏ lòng trung thành tuyệt đối. Kết thúc cuộc đời chiến đấu của ông là cái chết bi tráng và oanh liệt như biết bao các vị liệt tướng đã anh dũng hy sinh vì nước khác. 
Chiến tích đáng ca ngợi của Nguyễn Tri Phương không phải là công lao đánh dẹp các cuộc nổi dậy chống chế độ phong kiến, hay bình định trấn Tây thành được vua Nguyễn giao phó, mà là những trận chiến dũng cảm chống thực dân Pháp xâm lược, tiêu biểu là trận chiến giữ thành Hà Nội năm 1873. Đó là những trận chiến làm nên tên tuổi của Nguyễn Tri Phương, được lưu danh và đi vào sử sách của dân tộc ta nửa cuối thế kỷ XIX. 
3. Tấm gương tráng kiệt chống xâm lược
Sự hy sinh của Nguyễn Tri Phương được xem là một bi kịch, bi kịch của cá nhân ông, của triều Nguyễn và của lịch sử dân tộc. Sự thất bại của cuộc chiến giữ thành Hà Nội năm 1873 của Nguyễn Tri Phương lặp lại đúng những nguyên nhân thất bại của trận thất thủ Đại đồn Chí Hòa (Gia Định) 12 năm trước (1861), đó là: vũ khí lạc hậu, mất tác dụng, tướng sĩ không chủ động tấn công mà để Pháp đánh úp, tác chiến lúng túng, không chiến đấu đến cùng…, trong khi Garnier - Dupuis chỉ có hơn 400 trăm quân (một nửa là người Vân Nam và người châu Á khác), ít hơn rất nhiều so với 7.000 quân Nguyễn. Song nguyên nhân lớn nhất dẫn đến thất bại vẫn là do tư tưởng cầu hòa, thể hiện qua những mệnh lệnh chỉ đạo chiến tranh lấp lửng, không kiên quyết của triều đình nhà Nguyễn. Tư tưởng này đã “trói tay” các tướng sĩ ngoài mặt trận, khiến cho họ chưa đánh đã cầm chắc sự thất bại, nhất là khi phải đối diện với một kẻ thù mới và hiện đại về mọi mặt như thực dân Pháp. 
Chủ trương “Duy thủ” (lấy việc giữ là chính), một biểu hiện của tư tưởng cầu hòa đã xuất hiện trong triều Nguyễn khi Nguyễn Tri Phương còn đang chỉ huy chặn giặc trên mặt trận Gia Định. Do chủ trương này mà quân Nguyễn dù có lực lượng áp đảo đối phương nhưng vẫn “án binh bất động” trong phòng tuyến Chí Hòa (trong khi Pháp chỉ có 1.000 quân, lại phải dàn mỏng bên kia chiến tuyến dài 10 km). Điều này làm cho quân Nguyễn mất dần ý chí và sự cảnh giác, trong khi quân Pháp đủ thời gian để tăng viện và bất ngờ tấn công, khiến Đại đồn Chí Hòa thất thủ, quân Nguyễn thảm bại.  
Từ năm 1867 (khi Pháp chiếm xong 6 tỉnh Nam Kỳ) đến năm 1873, tư tưởng cầu hòa đã chi phối rõ rệt trong vua quan triều Nguyễn. Trong triều hình thành hai phái: Chủ hòa và chủ chiến. Phái chủ hòa lại chia thành hai khuynh hướng: chủ hòa buông trôi và chủ hòa sách lược. Vua Tự Đức và nhiều đại thần ngày càng nghiêng về khuynh hướng thứ nhất (chủ hòa buông trôi). Phái chủ chiến lúc này cũng còn tương đối đông đảo với các đại biểu có vị trí quan trọng như Hoàng Diệu, Nguyễn Tri Phương, Tôn Thất Thuyết, Ông Ích Khiêm… Tuy đứng về phái chủ chiến nhưng họ vẫn luôn trung thành với triều đình. Điều đó lý giải tại sao Nguyễn Tri Phương và một số tướng lĩnh trên chiến trường Gia Định dù có tinh thần đánh Pháp nhưng không chủ động tấn công địch, bởi phải “vừa đánh vừa nghe” chỉ đạo của triều đình. Mâu thuẫn và bi kịch trên đây còn tiếp tục diễn ra ở Hà Nội và trên mọi mặt trận, cho đến khi triều Nguyễn đầu hàng thực dân Pháp hoàn toàn. Trong lịch sử giữ nước của dân tộc, chưa bao giờ chúng ta thắng được giặc ngoại xâm bằng cách giữ thành tiêu cực như vậy.
Bài học thất bại của An Dương Vương và Hồ Quý Ly được lặp lại trong cuộc chiến chống Pháp của triều Nguyễn. Bởi thế, thành Hà Nội thất thủ và sự hy sinh của Nguyễn Tri Phương là tất yếu, gần như là một kết cục đã được báo trước.
Thế nhưng, khi thành Hà Nội thất thủ, Tự Đức và đình thần lại phán xử: “Đến sau vụ án thất thủ xét xong, đình thần nghị xử Tri Phương phải cách bỏ chức hàm, vẫn lưu mãi bản án trảm giam hậu”7. Tất nhiên, cái chết của Nguyễn Tri Phương cũng khiến cho vua Nguyễn thương tiếc, dẫn đến thay đổi xét xử: “Suốt đời trung dũng trẫm đã biết rõ, thủy chung khó nhọc, so với bọn cầu sống tạm, không có công trạng gì khác nhau xa hẳn. Nay tạm gia ân cho khai phục hàm Tả Tham tri bộ Binh. Còn tước bá là do công bình Man ngày trước mà được, thì miễn cho không tước bỏ”8. Như thế có nghĩa là cho đến cuối cùng, Tự Đức vẫn không nhận ra rằng chính thái độ hèn nhát, cầu hòa của vua và đình thần bên cạnh vua đã dẫn đến kết cục như vậy.
Sự hy sinh của Nguyễn Tri Phương, cùng với Nguyễn Lâm con trai ông, tại thành Hà Nội năm 1873 là cái chết bi tráng, tuyệt vọng nhưng vô cùng oanh liệt. Trước những kẻ thù xâm lược truyền thống và với phương tiện, binh pháp đánh giặc truyền thống, Nguyễn Tri Phương là một tướng tài. Còn đối với thực dân Pháp, một kẻ thù xâm lược mới và hiện đại cả về vũ khí, phương tiện và tư duy chiến tranh, lại bị tư tưởng sợ hãi, khiếp đảm của vua Nguyễn và triều thần cản trở, Nguyễn Tri Phương đã phải chịu thất bại. Mặc dù vậy, Nguyễn Tri Phương vẫn là một vị tướng oai phong và lẫm liệt, một anh hùng dân tộc trong những trận chiến đầu tiên chống thực dân Pháp xâm lược khiến chúng ta phải ngưỡng mộ. 

1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, t. 3, tr. 264.
2, 3, 5, 6, 7, 8. Quốc sử quán triều Nguyễn: Đại Nam liệt truyện, chính biên (quyển 23, truyện các quan, mục 13), Viện Sử học Việt Nam, Nxb. Thuận Hóa, Huế, 2006, tập 3, mục Nguyễn Tri Phương.
4. Lực lượng vũ trang của Dupuis có khoảng 200 người, gồm 10 lính Âu, 150 lính đánh thuê Vân Nam, 30 lính Á và một số lính Cờ Vàng.                               

TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011.
2. Quốc sử quán triều Nguyễn: Đại Nam liệt truyện, chính biên (quyển 23, truyện các quan, mục 13), Viện Sử học Việt Nam, Nxb. Thuận Hóa, Huế, 2006, tập 3.

PGS.TS. Phạm Quốc Sử

Chia sẻ:

ASEAN tiến triển tích cực trong xây dựng Cộng đồng trên cả 3 trụ cột 03/08/2021
Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Bùi Thanh Sơn chỉ rõ, ASEAN cần quan tâm hỗ trợ các vùng miền kém phát triển trong ASEAN, bao gồm Tiểu vùng Mê Công, trong thu hẹp khoảng cách phát triển đang gia tăng ở khu vực do ảnh hưởng của đại dịch; đồng thời lồng ghép vấn đề này trong triển khai Kế hoạch công tác sáng kiến hội nhập ASEAN (IAI) giai đoạn IV.
Đoàn kết và thống nhất là nền tảng cho sức mạnh của ASEAN 02/08/2021
Phát biểu tại Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN lần thứ 54, Bộ trưởng Bùi Thanh Sơn nhấn mạnh đoàn kết và thống nhất là nền tảng cho sức mạnh của ASEAN; trước tác động kinh tế - xã hội nặng nề của đại dịch, hơn bao giờ hết, ASEAN cần phát huy mạnh mẽ nội lực của một Cộng đồng tự cường và gắn kết, khẳng định vai trò và trách nhiệm với chính sự phát triển của khu vực.
Kinh tế Việt Nam 6 tháng đầu năm và triển vọng năm 2021 02/08/2021
Đợt bùng phát đại dịch Covid-19 lần thứ tư tại Việt Nam có số ca nhiễm tăng mạnh, khiến Chính phủ và một số địa phương, trong đó có cả ba thành phố lớn là Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng, phải dồn lực thực hiện các biện pháp chống dịch. Tuy vậy, theo báo cáo của Tổng cục Thống kê, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) 6 tháng đầu năm 2021 tăng 5,64%. Đó là kết quả của sự chỉ đạo, điều hành quyết liệt, đúng đắn của Đảng và Chính phủ, sự chung sức, đồng lòng của hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân trong việc thực hiện các nhiệm vụ và giải pháp phát triển kinh tế - xã hội.