Thứ năm, 17/06/2021 03:52:24 (GTM +7)

Sức mạnh Việt Nam trong Đại thắng mùa Xuân năm 1975 với công cuộc đổi mới hiện nay

Tóm tắt: Đại thắng mùa Xuân năm 1975 là chiến công chói lọi, thắng lợi vẻ vang của sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của quân và dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng, mở ra bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc - kỷ nguyên: độc lập, thống nhất Tổ quốc. Đại thắng mùa Xuân năm 1975 phản ánh sức mạnh của lòng yêu nước nồng nàn, tinh thần đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế cao cả, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam. Sức mạnh đó đã và đang là động lực thúc đẩy mạnh mẽ công cuộc đổi mới hiện nay.

Từ khóa: sức mạnh Việt Nam, Đại thắng mùa Xuân năm 1975, công cuộc đổi mới

1. Đại thắng mùa Xuân năm 1975 - Kết tinh của sức mạnh Việt Nam

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 diễn ra trong 55 ngày đêm với tốc độ “một ngày bằng 20 năm”. Với trận quyết chiến chiến lược này, Việt Nam đã đánh bại hoàn toàn quân đội Việt Nam Cộng hòa có quy mô hơn một triệu tên, do Mỹ dày công tổ chức, nuôi dưỡng trong thời gian dài, được huấn luyện bài bản, trang bị số lượng lớn vũ khí và hệ thống phòng thủ hiện đại, bố trí chiến lược khá vững chắc ở miền Nam Việt Nam. Cuộc Tổng tiến công chiến lược mùa Xuân năm 1975 có tầm vóc lớn cả về quân sự và chính trị, về không gian và lực lượng theo ba giai đoạn:

Thứ nhất, đòn đánh điểm huyệt Buôn Ma Thuật đã tạo ra đột biến về chiến dịch và chiến lược, làm cho chính quyền và quân đội Sài Gòn choáng váng, dẫn đến sai lầm về chiến lược bỏ toàn bộ Tây Nguyên. Ngay lập tức, quân và dân ta giải phóng Tây Nguyên và các tỉnh Duyên hải miền Trung.

Thứ hai, bằng chiến dịch Huế - Đà Nẵng, với sức mạnh tổng hợp của các binh đoàn chủ lực, lực lượng vũ trang địa phương và sự nổi dậy của quần chúng, quân và dân ta đã giải phóng hoàn toàn Trị - Thiên, đánh chiếm cố đô Huế, đặc biệt là làm cho căn cứ liên hợp Đà Nẵng sụp đổ hoàn toàn trong thời gian ngắn. Với tầm nhìn chiến lược xa, rộng, sau khi giải phóng Đà Nẵng, quân đội ta lập tức tổ chức các hải đoàn, đánh chiếm ngay các đảo ven bờ và quần đảo Trường Sa, làm cho chính quyền Sài Gòn và các thế lực âm mưu nhòm ngó bờ cõi nước ta không kịp trở tay. Quyết chiến và toàn thắng, các binh đoàn chủ lực đã kiên quyết đánh địch trong hành tiến, lần lượt giải phóng Ninh Thuận, Bình Thuận, Lâm Đồng, Khánh Hòa và các tỉnh Đông Nam Bộ, hình thành thế bao vây, chia cắt Sài Gòn.

Thứ ba, ngày 26/3/1975, chiến dịch tổng công kích giải phóng Sài Gòn - Gia Định mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh bắt đầu. Từ năm hướng, năm quân đoàn chủ lực với tinh thần quyết chiến và toàn thắng đã lần lượt đánh chiếm các địa bàn đầu cầu, các địa bàn vùng ven, kết hợp với các mũi thọc sâu cùng một lúc đánh thẳng vào các cơ quan đầu não của chính quyền và quân đội Sài Gòn. Đúng 11 giờ 30 phút ngày 30/4/1975, lá cờ chiến thắng của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tung bay trên nóc Dinh Độc Lập - Phủ Tổng thống của chính quyền Sài Gòn. Toàn bộ nội các của chính quyền Sài Gòn bị bắt và phải tuyên bố đầu hàng không điều kiện. Ngay sau đó, các tỉnh vùng Đồng bằng sông Cửu Long và các đảo còn lại như Thổ Chu, Phú Quốc đã được giải phóng. Cả miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất, giang sơn liền một dải từ địa đầu Lũng Cú đến đất Mũi Cà Mau.

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, đánh dấu sự trưởng thành của quân đội nhân dân Việt Nam cả về tổ chức lực lượng và chỉ huy tác chiến hiệp đồng. Thắng lợi oanh liệt đó đã tạo ra bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV (1976) khẳng định: “… thắng lợi của nhân dân ta trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một trong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người, và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ XX, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc”1. Tổng kết lịch sử dân tộc thế kỷ XX, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng (2001) một lần nữa khẳng định: Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là một trong ba thắng lợi vĩ đại của nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng trong thế kỷ XX, cùng với thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược “đánh thắng chủ nghĩa thực dân cũ và mới, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, thực hiện thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, góp phần quan trọng vào cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội"2.

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 có ý nghĩa lịch sử và tầm vóc thời đại to lớn, đưa cả nước bước vào kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 là kết tinh sức mạnh Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh. Sức mạnh đó đang là nguồn động lực to lớn, thúc đẩy mạnh mẽ công cuộc đổi mới để xây dựng xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

2. Sức mạnh Việt Nam - Nguồn động lực thúc đẩy mạnh mẽ công cuộc đổi mới

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 12/1986) đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước, bao gồm đổi mới tư duy, đổi mới tổ chức cán bộ, đổi mới phương pháp lãnh đạo và phong cách công tác. Sau hơn 30 năm đổi mới, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, sự nỗ lực, phấn đấu không ngừng của các tầng lớp nhân dân, sự nghiệp đổi mới đã đạt được “những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử3 trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Sức mạnh Việt Nam làm nên Đại thắng mùa Xuân năm1975 đã và đang là động lực thúc đẩy mạnh mẽ công cuộc đổi mới toàn diện đất nước do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo.

Những thành tựu to lớn trên tất cả các lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng, đối ngoại, xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc,… chứng tỏ đường lối đổi mới của Đảng trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là hoàn toàn đúng đắn và sáng tạo; khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta là phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của lịch sử. Điều đó chứng tỏ sức mạnh Việt Nam từng làm nên Đại thắng mùa Xuân năm 1975 đã được Đảng vận dụng sáng tạo, đang ăn sâu, bén rễ trong công cuộc đổi mới, trên nhiều lĩnh vực nhưng tập trung ở chủ nghĩa yêu nước; tinh thần đại đoàn kết dân tộc; sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng; truyền thống ngoại giao độc lập, tự cường và hòa bình, thân thiện với các nước trên thế giới.

Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam bắt nguồn từ truyền thống dân tộc, được hun đúc qua hàng nghìn năm lịch sử, được Chủ tịch Hồ Chí Minh tổng kết: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước”4. Theo Người: “Tinh thần yêu nước cũng như các thứ của quý. Có khi được trưng bày trong tủ kính, trong bình pha lê, rõ ràng dễ thấy. Nhưng cũng có khi cất giấu kín đáo trong rương, trong hòm. Bổn phận của chúng ta là làm cho những của quý kín đáo ấy đều được đưa ra trưng bày. Nghĩa là phải ra sức giải thích, tuyên truyền, tổ chức, lãnh đạo, làm cho tinh thần yêu nước của tất cả mọi người đều được thực hành vào công việc yêu nước, công việc kháng chiến"5.

Kế thừa và phát huy truyền thống yêu nước của dân tộc, Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đoàn kết lực lượng toàn dân tộc, nêu cao ngọn cờ dân tộc, làm nên cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, lãnh đạo thắng lợi các cuộc kháng chiến oanh liệt chống các thế lực thực dân, đế quốc mạnh nhất trong thế kỷ XX, thể hiện tập trung trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, giành độc lập, thống nhất đất nước. Trong công cuộc đổi mới hiện nay, Đảng chủ trương động viên sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, nêu cao chủ nghĩa yêu nước, thực hiện thắng lợi mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Chủ nghĩa yêu nước truyền thống được phát triển, bổ sung những nội dung mới. Yêu nước là phấn đấu vì sự cường thịnh của Tổ quốc, thoát khỏi tình trạng nước nghèo, kém phát triển, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Yêu nước là ra sức học tập, lao động, làm việc với chất lượng, hiệu quả cao nhất, thiết thực nhất; là không tham nhũng, lãng phí; là thật sự vì nước, vì dân. Yêu nước là phấn đấu vì mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Yêu nước là sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, vùng trời, biển đảo của Tổ quốc.

Đại đoàn kết dân tộc là một truyền thống vô cùng quý báu của dân tộc Việt Nam. Nhờ phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo thành công cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, chiến thắng thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, để rồi Mc Namara - nguyên Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ thời kỳ chiến tranh ở Việt Nam đã rút ra bài học: “Sức mạnh sâu thẳm nhất của một dân tộc không nằm ở mũi nhọn quân sự mà ở sự đoàn kết của họ"6.

Trong công cuộc đổi mới toàn diện, xây dựng và phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn đề cao chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc dựa trên những nguyên tắc cơ bản: lấy mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa, hòa bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh làm điểm tương đồng; xóa bỏ mặc cảm, định kiến về quá khứ, thành phần giai cấp, chấp nhận những điểm khác nhau nhưng không trái với lợi ích chung của dân tộc; đề cao tinh thần dân tộc, truyền thống nhân nghĩa, khoan dung để tập hợp, đoàn kết mọi người vào mặt trận chung, tăng cường đồng thuận xã hội; đại đoàn kết toàn dân tộc phải dựa trên cơ sở giải quyết hài hòa quan hệ lợi ích giữa các thành viên trong xã hội.

Sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng được thể hiện và khẳng định trong Cách mạng Tháng Tám và chiến tranh cách mạng, nổi bật là trong Đại thắng mùa Xuân năm 1975: Đảng là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Trong nhiệm kỳ Đại hội XII, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị được đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ, quyết liệt, tạo nhiều chuyển biến tích cực, củng cố được niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân. Ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên. Công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí có bước đột phá, đạt nhiều kết quả nổi bật, ngày càng đi vào chiều sâu. Tham nhũng từng bước được kiềm chế, ngăn chặn, được cán bộ, đảng viên, nhân dân đồng tình, ủng hộ, đánh giá cao và quốc tế ghi nhận. Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa có nhiều tiến bộ, hệ thống pháp luật ngày càng được bổ sung, hoàn thiện, kiểm soát quyền lực nhà nước ngày càng được chú trọng và tăng cường, sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp ngày càng hợp lý hơn; tổ chức bộ máy được sắp xếp lại tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả hơn.

Sự đoàn kết, thống nhất, phối hợp đồng bộ giữa Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội được tăng cường; niềm tin của Nhân dân vào Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa được củng cố, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, dân chủ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân được phát huy, tạo thành sức mạnh tổng hợp để đất nước vượt qua mọi khó khăn, thử thách. Điều đó được chứng minh qua việc Việt Nam đã kiểm soát thành công đại dịch Covid-19, vừa bảo vệ được sức khỏe, tính mạng của nhân dân, vừa ổn định đời sống, từng bước phục hồi sản xuất kinh doanh, góp phần củng cố, nâng cao niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa.

Ngoại giao độc lập, tự cường và hòa bình, thân thiện với các nước trên thế giới là truyền thống của dân tộc ta. Chính sách ngoại giao xuyên suốt của nước Đại Việt là kiên quyết bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, giữ vững an ninh biên giới, nêu cao ý thức tự cường và khẳng định vị thế của quốc gia, dân tộc. Ngoại giao cách mạng Việt Nam đã kế thừa truyền thống ngoại giao của dân tộc trong lịch sử và được phát triển phong phú, sáng tạo theo đường lối đối ngoại của Đảng và tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh, nổi bật là trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, đặc biệt là trong Đại thắng mùa Xuân năm 1975 với chủ trương kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.

Quan hệ đối ngoại ngày càng rộng mở, Việt Nam có quan hệ ngoại giao với hầu hết các nước trên thế giới. Tính đến nay, trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau và cùng có lợi, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 189/193 quốc gia thành viên Liên hợp quốc. Trong mạng lưới quan hệ rộng mở đó, Việt Nam đã thiết lập khuôn khổ quan hệ ổn định, lâu dài với 17 đối tác chiến lược, 13 đối tác toàn diện trên nền tảng lợi ích của mỗi nước và đóng góp cho các lợi ích chung của khu vực và thế giới vì hòa bình và phát triển7.

Trong 5 năm gần đây (2016-2020), hoạt động đối ngoại đã thúc đẩy tạo dựng nhiều khuôn khổ thuận lợi cho hợp tác quốc tế, đặc biệt là việc tham gia và ký kết hai Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) thế hệ mới là Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) và Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - Liên minh châu Âu (EVFTA), một FTA quy mô hàng đầu thế giới là Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP), mang lại những cơ hội lớn về mở rộng, đa dạng hóa thị trường, tham gia sâu rộng hơn vào chuỗi cung ứng khu vực và toàn cầu. Các khuôn khổ quan hệ đối tác chiến lược và đối tác toàn diện được mở rộng trên tinh thần lựa chọn đối tác có trọng tâm, trọng điểm. Trong giai đoạn này, Việt Nam thiết lập quan hệ đối tác toàn diện với 5 nước8, nâng cấp quan hệ lên đối tác chiến lược với 2 nước (Ôxtrâylia năm 2018 và Niudilân năm 2020), từ đối tác chiến lược lên đối tác chiến lược toàn diện với 1 nước (Ấn Độ năm 2016), nâng tổng số quan hệ đối tác chiến lược/đối tác toàn diện lên 30 nước. Hội nhập chính trị, an ninh, quốc phòng ngày càng đi vào chiều sâu, với dấu ấn quan trọng là việc Việt Nam cử lực lượng tham gia gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc. Hội nhập văn hóa - xã hội, khoa học và công nghệ, giáo dục - đào tạo cũng đạt được những bước tiến quan trọng.

Việt Nam đã chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, trở thành bạn, đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, góp phần nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế. Việt Nam đã tham gia vào các định chế khu vực, toàn cầu, nhất là các FTA thế hệ mới, và đóng góp tích cực ở hầu hết các tổ chức, diễn đàn quốc tế quan trọng, đảm nhiệm thành công nhiều trọng trách, ghi đậm dấu ấn về sự chủ động, tích cực trong vai trò Chủ tịch ASEAN 2020 và Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020-2021. Việt Nam đã trở thành tâm điểm chú ý của toàn cầu với vị trí uy tín cao trong năm 2020. Việt Nam được thế giới đánh giá là “ngôi sao sáng của châu Á”, được xếp vào tốp 16 nền kinh tế mới nổi thành công nhất thế giới.

Phát huy sức mạnh Việt Nam trong Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, sau 35 năm đổi mới, dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tiếp tục phát triển; kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát luôn được kiểm soát ở mức thấp; các cân đối lớn của nền kinh tế cơ bản được bảo đảm; nợ công giảm, nợ xấu được kiểm soát. Mặc dù, năm cuối nhiệm kỳ, đại dịch Covid-19 và thiên tai, bão lũ nghiêm trọng liên tiếp xảy ra ở các tỉnh miền Trung đã tác động nặng nề tới mọi mặt của đi sống kinh tế - xã hội, nhưng tốc độ tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2016-2020 đạt khoảng 6%/năm (riêng năm 2020 tăng trưởng GDP vẫn đạt 2,91%, là mức tăng trưởng thuộc nhóm cao nhất thế giới). Quy mô nền kinh tế và thu nhập bình quân đầu người tăng lên (năm 2020, GDP đạt 271,2 tỉ USD và thu nhập bình quân đầu người đạt 2.779 USD). Chất lượng tăng trưởng được cải thiện, năng suất lao động tăng từ 4,3%/năm giai đoạn 2011-2015 lên khoảng 6%/năm giai đoạn 2016-20209.

Theo Báo cáo Chỉ số kết nối toàn cầu 2020 của Công ty DHL và Trường Kinh doanh Stern của Đại học New York (Mỹ), Việt Nam vẫn đạt kết quả tích cực trong thương mại hàng hóa, đứng thứ năm về dòng chảy thương mại toàn cầu10. Việt Nam đã trở thành một trong những nền kinh tế có độ mở thuộc loại cao trên thế giới (chiếm khoảng 200% GDP). Việt Nam đã xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ với các công trình hiện đại, nhất là hệ thống giao thông và hạ tầng đô thị lớn; hạ tầng thông tin và truyền thông phát triển mạnh; xây dựng nông thôn mới đạt nhiều kết quả quan trọng, làm thay đổi bộ mặt nông thôn và đời sống nông dân.

Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ngày càng được cải thiện, có chất lượng tốt hơn. Chất lượng dịch vụ y tế, giáo dục và đào tạo được nâng lên. Chỉ số phát triển con người (HDI) tăng vượt trội, xếp thứ 117/189 quốc gia và vùng lãnh thổ, thuộc nhóm các nước có mức phát triển con người trung bình cao của thế giới. Chất lượng nguồn nhân lực có sự cải thiện đáng kể, tỷ lệ lao động qua đào tạo tăng từ 40% (2010) lên khoảng 65% (2020). Tiềm lực khoa học và công nghệ quốc gia được tăng cường; chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu của Việt Nam (chỉ số GII) liên tục được cải thiện, từ vị trí thứ 59 (2016) lên thứ 42 (2020) trên 131 quốc gia và nền kinh tế, tiếp tục dẫn đầu trong nhóm quốc gia có cùng mức thu nhập trung bình thấp.

Tiềm lực quốc phòng, an ninh được củng cố và tăng cường; kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội (chỉ số an toàn xếp thứ 64/163 quốc gia năm 2020), trở thành điểm thu hút đầu tư và du lịch hấp dẫn của thế giới.

Qua 35 năm đổi mới, đất nước có nhiều thay đổi, sức mạnh tổng hợp quốc gia - dân tộc được nâng cao rõ rệt, thế và lực của đất nước được nâng lên một tầm cao mới. Việt Nam đã hoàn thành các Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ của Liên hợp quốc trong đó có nhiều mục tiêu về giảm nghèo, y tế, giáo dục hoàn thành trước thời hạn, được đánh giá là điểm sáng và đang đẩy mạnh thực hiện mục tiêu phát triển bền vững đến năm 2030. Sức mạnh Việt Nam trong Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 bước đầu đã được kế tục, phát huy và phát triển trong công cuộc đổi mới. Đó là cơ sở để chúng ta tin rằng tinh thần chiến thắng 30/4 lịch sử cũng là tinh thần và ý chí của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta tiến lên giành những thành tựu to lớn hơn nữa trong sự nghiệp đổi mới, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

PGS. TS. Vũ Quang Vinh

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

 


1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004, t. 37, tr. 471.

2. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 63.

3. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2016, tr. 16.

4. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, t. 7, tr. 38.

5. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, t. 7, tr. 38-39.

6. Robert S. Mc Namara: Nhìn lại quá khứ: Tấn thảm kịch và những bài học về Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 316.

7. Phạm Bình Minh: “Ngoại giao Việt Nam: 75 năm đồng hành cùng dân tộc, Báo Nhân Dân, ngày 27/8/2020, https://nhandan.com.vn/tin-tuc-su-kien/ngoai-giao-viet-nam-75-nam-dong-hanh-cung-dan-toc--614495/

8. Bao gồm: Canada (2017), Mianma (2017), Hungary (2018), Brunây (2019) và Hà Lan (2019).

9. Xem Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2021, t. 1, tr. 60-61.

10. https://baodautu.vn/viet-nam-nam-trong-top-5-cac-quoc-gia-ve-dong-chay-thuong-mai-quoc-te-d134271.html

Chia sẻ:

Ra sức học tập, nỗ lực phấn đấu và rèn luyện, không ngừng làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh 13/06/2021
Ngày 12/6/2021, Ban Bí thư Trung ương Đảng tổ chức Hội nghị toàn quốc sơ kết 5 năm thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW, ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị khóa XII về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, triển khai Kết luận số 01-KL/TW, của Bộ Chính trị khóa XIII về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã tới dự và phát biểu tại Hội nghị. Tạp chí Nhịp cầu Tri thức trân trọng giới thiệu toàn văn bài phát biểu quan trọng của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng: “Ra sức học tập, nỗ lực phấn đấu và rèn luyện, không ngừng làm theo tư tưởng, đạo đức và phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh”.
Tỏa sáng tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, khơi dậy và thực hiện khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc 10/06/2021
Nhân dịp sơ kết 5 năm thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW, ngày 15-5-2016 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, đồng chí Nguyễn Xuân Phúc, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có bài viết với tiêu đề “Tỏa sáng tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, khơi dậy và thực hiện khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”. Tạp chí Nhịp cầu Tri thức trân trọng giới thiệu toàn văn bài viết quan trọng của Chủ tịch nước.
Nguyễn Tất Thành và con đường cứu nước 03/06/2021
Ngày 05/6/1911, tại Bến Nhà Rồng, người thanh niên Việt Nam yêu nước Nguyễn Tất Thành đã lên tàu buôn Đô đốc Latouche Tréville với mong muốn học hỏi những tinh hoa và tiến bộ từ các nước để trở về giúp đỡ, giải phóng đồng bào mình khỏi ách nô lệ của thực dân, đế quốc. Đây là dấu mốc quan trọng, đánh dấu hành trình tìm đường cứu nước của Văn Ba - Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh. Lựa chọn ra đi tìm đường cứu nước của Nguyễn Tất Thành thể hiện sự tiếp bước của cha anh nhưng đầy sáng tạo và đổi mới. Vào thời điểm đó, không ai biết rằng vận mệnh của dân tộc Việt Nam đã gắn liền với quyết định ra đi của một con người mà lịch sử đã chứng tỏ là sáng suốt và phi thường ấy.