Thứ bảy, 08/08/2020 10:28:42 (GTM +7)

Trí thức Việt Nam với cuộc cách mạng công nghiệp 4.0

Trí thức Việt Nam là lực lượng lao động sáng tạo đặc biệt quan trọng trong tiến trình xây dựng và phát triển đất nước. Xây dựng đội ngũ trí thức vững mạnh góp phần nâng tầm trí tuệ của dân tộc, củng cố sức mạnh của đất nước, nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng và chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0). Đầu tư xây dựng đội ngũ trí thức là đầu tư cho phát triển bền vững. Cuốn sách Trí thức Việt Nam với cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 do PGS.TS. Lê Văn Thắng và TS. Nguyễn Văn Tuân đồng chủ biên là một trong những công trình nghiên cứu chuyên sâu góp phần khẳng định và làm sâu sắc quan điểm trên.

CMCN 4.0 với đặc trưng là trí tuệ nhân tạo (AI), Internet vạn vật (IoT), thực tế ảo (VR), tương tác thực tế ảo (AR), mạng xã hội, điện toán đám mây, phân tích dữ liệu lớn (SMAC)... cho phép chuyển hóa toàn bộ thế giới thực thành thế giới số dựa trên nền tảng công nghệ số tích hợp công nghệ “thông minh” nhằm tối ưu hóa phương thức sản xuất đã mở ra những cơ hội và cũng đặt ra nhiều thách thức đối với sự phát triển của mỗi quốc gia. Với Việt Nam, CMCN 4.0 được dự báo sẽ có những tác động lớn đối với đời sống kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Trong điều kiện đó, để sớm đưa Việt Nam cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại, đòi hỏi chúng ta phải lựa chọn con đường phát triển rút ngắn, tận dụng tối đa những cơ hội mà CMCN 4.0 đưa lại; đồng thời, phát huy mọi nguồn lực và tiềm năng trí tuệ của dân tộc, đặc biệt là năng lực sáng tạo của đội ngũ trí thức.

Cuốn sách Trí thức Việt Nam với cuộc cách mạng công nghiệp 4.0  được kết cấu thành 4 chương:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về cuộc cách mạng công nghiệp 4.0. Ở chương này, các tác giả hệ thống lịch sử hình thành bốn cuộc cách mạng công nghiệp, trong đó có CMCN 4.0 và khẳng định, mỗi cuộc cách mạng đều được đặc trưng bằng sự thay đổi về bản chất của sản xuất, được tạo ra bởi các đột phá của khoa học và công nghệ, đem lại sự thay đổi trên mọi phương diện trong đời sống của con người như kinh tế, văn hóa, xã hội… CMCN 4.0 đã kế thừa những thành tựu của các cuộc cách mạng công nghiệp trước đó và có những bước tiến vượt bậc trong lĩnh vực khoa học. Trong các “nhà máy thông minh”, máy móc được kết nối Internet và liên kết với nhau qua một hệ thống có thể tự hình dung toàn bộ quy trình sản xuất rồi đưa ra quyết định sẽ thay thế dần các dây chuyền sản xuất trước đây. Nhờ khả năng kết nối hàng tỷ người trên thế giới thông qua các thiết bị di động và khả năng tiếp cận được với cơ sở dữ liệu lớn, những tính năng xử lý thông tin sẽ được nhân lên bởi những đột phá công nghệ trong các lĩnh vực như trí tuệ nhân tạo, công nghệ người máy, Internet kết nối vạn vật, xe tự lái, công nghệ in 3 chiều, công nghệ Nano, công nghệ sinh học, khoa học vật liệu, lưu trữ năng lượng và tính toán lượng tử. Do đó, CMCN 4.0 tạo ra sự thay đổi toàn diện kinh tế thế giới trên cả ba phương diện vận tốc, phạm vi và hệ thống.

Với đặc trưng và sự phát triển ở cấp số nhân, CMCN 4.0 đã tác động mạnh mẽ đến mọi quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam, đặc biệt là nguồn nhân lực. Theo đó, quốc gia nào sở hữu nguồn nhân lực chất lượng cao sẽ giành ưu thế cạnh tranh. Nói đến nguồn nhân lực chất lượng cao là đề cập đến đội ngũ trí thức, trong đó có đội ngũ trí thức tinh hoa - những người tiên phong trong việc lĩnh hội khoa học và công nghệ hiện đại. Hiện nay, đội ngũ trí thức Việt Nam có vai trò quyết định trong nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao khoa học và công nghệ, góp phần đẩy nhanh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế của đất nước. Do đó, đội ngũ trí thức Việt Nam cần phát huy những thế mạnh của mình, đồng thời không ngừng học hỏi, nâng cao trình độ nhằm giải quyết những yêu cầu đặt ra trong “bài toán phát triển” ở thời đại số.

Chương 2: Đặc điểm và vai trò của trí thức Việt Nam trong cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 cho thấy, đội ngũ trí thức Việt Nam có bốn đặc điểm cơ bản, đó là: 1- Xuất thân từ nhiều giai tầng khác nhau, nhất là giai cấp công nhân và nông dân, gắn bó mật thiết với nhân dân lao động. Trí thức Việt Nam là một bộ phận của lực lượng lao động, là bộ phận nòng cốt trong khối liên minh công - nông - trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; 2- Luôn tích cực trong học tập nhằm nâng cao trình độ chuyên môn và nghiên cứu khoa học đáp ứng yêu cầu của thời đại mới; 3- Có tinh thần sáng tạo, tư duy độc lập trong hoạt động nghiên cứu khoa học và ứng dụng thực tiễn; 4- Luôn tiếp nối và phát huy truyền thống văn hóa dân tộc, có những đóng góp quan trọng trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Có thể khẳng định, đặc điểm nổi bật nhất của đội ngũ trí thức Việt Nam là tinh thần hiếu học, luôn cố gắng khắc phục khó khăn, dám đương đầu với trở ngại, thách thức. Tận dụng và phát huy đặc điểm này của đội ngũ trí thức Việt Nam sẽ góp phần tạo nên nội lực cho quá trình đổi mới, tạo điều kiện để dân tộc Việt Nam có thể nhanh chóng “đi tắt, đón đầu”, tiếp thu những thành tựu của CMCN 4.0 để phát triển.

Chương 3: Thực trạng và một số vấn đề đặt ra từ việc phát huy vai trò của đội ngũ trí thức Việt Nam trong cuộc cách mạng công nghiệp 4.0. Trong bối cảnh mới, thế giới đã chứng kiến những bước tiến vượt bậc trong khám phá và làm chủ kho tàng tri thức, những thành tựu khoa học và công nghệ đã thực sự trở thành nền tảng cho sự phát triển của các quốc gia. Từ đó, vai trò và ý nghĩa quyết định của nền kinh tế tri thức ngày càng được nhận thức sâu sắc hơn, trong đó khoa học và công nghệ đóng vai trò sống còn, chỉ có khoa học và công nghệ cao mới đưa đất nước phát triển lâu dài, bền vững. Và các nhà khoa học chính là những người tiên phong trên hành trình vươn lên, chuyển mình của dân tộc.

Trong chương này, các tác giả đi sâu phân tích thực trạng đội ngũ trí thức Việt Nam trên cơ sở đánh giá các tiêu chí: số lượng và chất lượng; vấn đề sử dụng đội ngũ trí thức; công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ trí thức; đồng thời, khảo sát thực trạng vai trò của đội ngũ trí thức trên các mặt cụ thể. Từ đó, đánh giá những thành tựu, chỉ ra hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế đó trong việc sử dụng đội ngũ trí thức Việt Nam hiện nay. Các tác giả khẳng định, quá trình phát huy vai trò của đội ngũ trí thức Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đã có nhiều chuyển biến tích cực: đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với đội ngũ trí thức ngày càng được hoàn thiện, đồng bộ, tiệm cận với các quan điểm mang tính quy chuẩn của các nước tiến bộ trên thế giới về trí thức và phát triển đội ngũ trí thức; nhận thức của toàn bộ hệ thống chính trị về vị trí, vai trò và sức mạnh to lớn của đội ngũ trí thức được nâng lên đáng kể; ngân sách nhà nước dành riêng cho phát triển đội ngũ trí thức và những hoạt động của đội ngũ trí thức ngày càng tăng; chính sách thu hút, đãi ngộ, trọng dụng trí thức ngày càng được quan tâm, đầu tư hiệu quả; số lượng, chất lượng đội ngũ trí thức ngày càng được bổ sung, phát triển; lộ trình điều chỉnh cơ cấu của đội ngũ trí thức được thực hiện có dấu hiệu khả quan.

Song, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác phát huy vai trò của đội ngũ trí thức ở Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế, yếu kém: nhiều chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về trí thức còn chung chung, chưa đi vào thực tiễn đời sống; một số chính sách thu hút, đãi ngộ, trọng dụng trí thức còn mang tính hình thức, chưa thực tế, chưa đủ để thu hút đông đảo lực lượng trí thức tài năng; khoa học - công nghệ, giáo dục - đào tạo chưa được đầu tư trọng tâm, hiệu quả; chi phí cho xây dựng, phát triển đội ngũ trí thức còn hạn chế. Vì thế, việc xây dựng, đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng hiệu quả nguồn lực trí thức Việt Nam trong CMCN 4.0 phải được coi là chiến lược trọng tâm, là chìa khóa để tiến tới hội nhập sâu rộng với các nước trong khu vực và trên thế giới.

 Chương 4: Phương hướng, nhiệm vụ và giải pháp phát huy vai trò của trí thức Việt Nam đáp ứng yêu cầu của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0. Trong điều kiện Việt Nam đang đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phấn đấu sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, việc trọng dụng nhân tài, các nhà khoa học đầu ngành, tổng công trình sư, kỹ sư trưởng, kỹ thuật viên lành nghề và công nhân kỹ thuật có tay nghề cao; có chính sách thu hút các nhà khoa học, công nghệ giỏi ở trong nước và nước ngoài, trong cộng đồng người Việt Nam định cư ở nước ngoài là một yêu cầu cấp thiết. Có thể khẳng định, xây dựng, phát triển đội ngũ trí thức có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc bảo đảm nguồn nhân lực cho chiến lược xây dựng và phát triển đất nước.

Trước yêu cầu đó, các tác giả đề xuất một số giải pháp mang tính đột phá nhằm phát huy vai trò của đội ngũ trí thức trong thời gian tới: xây dựng và hoàn thiện chiến lược tổng thể phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong thời kỳ mới; có chính sách thu hút Việt kiều, các nhà khoa học trong nước và nước ngoài có tầm nhìn và năng lực sáng tạo cao, có phẩm chất chính trị vững vàng, đáp ứng được yêu cầu, mục tiêu phát triển ngành/chuyên ngành đào tạo, khoa học và công nghệ mới; đầu tư xây dựng các trung tâm nghiên cứu, phòng thí nghiệm trọng điểm cấp quốc gia đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế để tạo môi trường làm việc hiện đại cho đội ngũ trí thức tập trung nghiên cứu, sáng tạo; đổi mới công tác tuyển dụng, bố trí, sử dụng hợp lý đội ngũ trí thức; nghiên cứu, ban hành chế độ, chính sách đối với đội ngũ trí thức; tạo điều kiện, môi trường làm việc cho đội ngũ trí thức; tăng cường công tác lãnh đạo của Ðảng và quản lý của Nhà nước đối với đội ngũ trí thức,… Từ đó, các tác giả đề xuất một số khuyến nghị đến các cơ quan quản lý nhà nước, các địa phương và đội ngũ trí thức nhằm phát huy vai trò và những đóng góp của đội ngũ trí thức Việt Nam trong thời gian tới.

TS. Vũ Thị Hương

Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật

Chia sẻ:

Chiến thắng 30/4/1975 - Sự hội tụ ý chí, khát vọng thống nhất và sức mạnh đại đoàn kết của dân tộc Việt Nam 05/08/2020
Cách đây 45 năm, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử của quân và dân Việt Nam đã giành thắng lợi hoàn toàn. Ngày 30/4/1975 đã đi vào lịch sử dân tộc Việt Nam như một mốc son chói lọi, đưa đất nước bước vào một kỷ nguyên mới - kỷ nguyên hòa bình, độc lập, thống nhất và phát triển vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Chiến thắng ngày 30/4/1975 là thành quả vĩ đại của sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, trang sử hào hùng, chói lọi trong công cuộc dựng nước và giữ nước hàng nghìn năm của dân tộc Việt Nam. Quân và dân Việt Nam đã đánh thắng kẻ thù lớn mạnh và hung hãn nhất của loài người tiến bộ, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến lâu dài, gian khổ vì độc lập tự do, thống nhất đất nước. Thắng lợi vĩ đại đó là kết quả tổng hợp của nhiều nhân tố, trong đó có sự ủng hộ, giúp đỡ to lớn của Chính phủ và nhân dân các nước xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là Liên Xô, Trung Quốc, của các lực lượng dân tộc, dân chủ, hòa bình, tiến bộ trên toàn thế giới.
Xây dựng Nhà nước kiến tạo phát triển theo tư tưởng Hồ Chí Minh 21/07/2020
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn có một tâm nguyện và ham muốn “là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”. Vì thế ngay sau khi nước nhà được độc lập, Người đã đưa ra những chỉ dẫn quý báu trên tất cả các lĩnh vực nhằm xây dựng và phát triển đất nước. Với tinh thần đó, bài viết tập trung làm rõ tư tưởng, những quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng Nhà nước phát triển, liêm khiết, phục vụ Nhân dân. Từ đó, đưa ra những giải pháp cơ bản nhằm xây dựng Nhà nước kiến tạo phát triển, liêm chính, hành động, phục vụ Nhân dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay.
Một số nội dung tuyên truyền, giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh đối với sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam hiện nay 21/07/2020
Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là một nội dung quan trọng trong công tác Đảng, công tác chính trị trong Quân đội nhân dân Việt Nam, góp phần xây dựng Đảng bộ Quân đội trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức; xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, giữ vững và phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”. Tuyên truyền, giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh trong quân đội là một trong những nội dung cốt lõi để cán bộ, chiến sĩ phấn đấu xứng danh Bộ đội Cụ Hồ, thể hiện rõ tính đặc thù của hoạt động quân sự trong tình hình mới, góp phần định hướng tư tưởng chính trị trong quân đội.