Bìa sách mới
 Click to Open
Quảng cáo

PostHeaderIcon Chủ trương của Đảng và Hồ Chí Minh trong việc giải quyết vấn đề dân tộc ở Đông Dương

Tại Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng (tháng 5 - 1941)

bacho100

Sau 30 năm hoạt động ở nước ngoài, ngày 28-1-1941, Hồ Chí Minh về nước để trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng. Ý nguyện của Người từ đầu những năm 20 của thế kỷ XX là “trở về nước, đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, tổ chức họ, đoàn kết họ, huấn luyện họ, đưa họ ra đấu tranh giành tự do độc lập”1 đến bây giờ mới được thực hiện. Trong bối cảnh tình hình thế giới và trong nước có những biến động to lớn, để đẩy mạnh phong trào cách mạng trong nước, chuyển hướng chỉ đạo chiến lược cho phù hợp với tình hình mới, Hồ Chí Minh đã chủ trì Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng (tháng 5-1941).

Sau khi phân tích tình hình trong nước và thế giới, Trung ương Đảng và Hồ Chí Minh đã xác định rõ đối tượng và nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam trong tình hình mới. Nghị quyết của Hội nghị nêu rõ: “Các dân tộc Đông Dương hiện nay bị dưới hai tầng áp bức bóc lột của giặc Pháp - Nhật… Đế quốc Pháp - Nhật chẳng những áp bức các giai cấp thợ thuyền, dân cày, mà chúng nó áp bức, bóc lột cả các dân tộc không chừa một hạng nào… Pháp - Nhật ngày nay không phải chỉ là kẻ thù của công nông mà là kẻ thù của cả dân tộc Đông Dương. Trong lúc này khẩu hiệu của Đảng ta là trước hết phải làm sao giải phóng cho được các dân tộc Đông Dương ra khỏi ách của giặc Pháp - Nhật”2. Hội nghị đã dự đoán: “Nếu cuộc đế quốc chiến tranh lần trước đã đẻ ra Liên Xô, một nước xã hội chủ nghĩa, thì cuộc đế quốc chiến tranh lần này sẽ đẻ ra nhiều nước xã hội chủ nghĩa, sẽ do đó mà cách mạng nhiều nước thành công”3. Sự đánh giá tình hình trong nước và quốc tế là cơ sở để định ra chủ trương, nhiệm vụ của cách mạng, định ra những bước đi cụ thể, phù hợp với những chuyển biến của cách mạng thế giới, bảo đảm cho thắng lợi của cách mạng ở Đông Dương.

Đặc biệt, Hội nghị Trung ương lần này đã giải quyết một cách thỏa đáng mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu. Hội nghị nhấn mạnh: “Trong lúc này quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, của dân tộc. Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu mà quyền lợi bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”4. Hội nghị chủ trương thay đổi chiến lược và giải thích rõ về nội dung sự thay đổi đó: “Cuộc cách mạng Đông Dương hiện tại không phải là cuộc cách mạng tư sản dân quyền, cuộc cách mạng phải giải quyết hai vấn đề: phản đế và điền địa nữa, mà là một cuộc cách mạng chỉ phải giải quyết một vấn đề cần kíp “dân tộc giải phóng”… Trong giai đoạn hiện tại ai cũng biết rằng: nếu không đánh đuổi được Pháp - Nhật thì vận mạng của dân tộc phải chịu kiếp ngựa trâu muôn đời mà vấn đề ruộng đất cũng không làm sao giải quyết được. Vậy thì trong lúc này muốn giải quyết nhiệm vụ giải phóng không thể đưa thêm một nhiệm vụ thứ hai chưa cần thiết với toàn thể nhân dân, giải quyết trước mà có hại cho nhiệm vụ thứ nhất”5. Về vấn đề ruộng đất, Hội nghị Trung ương lần này chỉ chủ trương chia lại công điền và chia ruộng đất “tịch thu của Việt gian phản quốc”. Vì thế, “trong khi tuyên truyền, không được dùng những khẩu hiệu quá thời… Không nên nói đánh đổ Nam triều phong kiến và tịch thu đất ruộng của địa chủ mà nói diệt trừ bọn Việt gian phản quốc”6.

Từ chủ trương nêu cao vấn đề giải phóng dân tộc, giành lại độc lập, tự do cho đất nước, mà Trung ương Đảng và Hồ Chí Minh đã đề ra chủ trương mới trong việc giải quyết vấn đề dân tộc ở Đông Dương - chủ trương giải quyết vấn đề độc lập dân tộc trong từng nước Đông Dương.

Nếu như từ Luận cương chính trị tháng 10-1930 đến nhiều chỉ thị, nghị quyết sau đó, Trung ương Đảng chủ trương giải quyết vấn đề dân tộc trong cả ba nước Đông Dương: giải phóng các dân tộc Đông Dương, thành lập mặt trận dân tộc thống nhất toàn Đông Dương, làm cho Đông Dương hoàn toàn độc lập, lập Chính phủ Liên bang cộng hòa dân chủ Đông Dương, thì Hội nghị Trung ương lần này chủ trương giải quyết vấn đề dân tộc trong khuôn khổ mỗi nước Đông Dương. Các dân tộc sống trên bán đảo Đông Dương sẽ tự quyết định vận mệnh của mình, tương lai của đất nước mình. Hội nghị nêu rõ: “Nói đến vấn đề dân tộc tức là đã nói đến sự tự do độc lập của mỗi dân tộc tùy theo ý muốn của mỗi dân tộc. Nói như thế nghĩa là sau lúc đánh đuổi Pháp - Nhật, ta phải thi hành đúng chính sách “dân tộc tự quyết” cho dân tộc Đông Dương. Các dân tộc sống trên cõi Đông Dương sẽ tùy theo ý muốn, tổ chức thành liên bang cộng hòa dân chủ hay đứng riêng thành một dân tộc quốc gia tùy ý... Văn hóa của mỗi dân tộc sẽ được tự do phát triển, tồn tại, tiếng mẹ đẻ của các dân tộc sẽ được tự do phát triển, tồn tại và được bảo đảm. Sự tự do độc lập của các dân tộc sẽ được thừa nhận và coi trọng”7.

Hội nghị nhấn mạnh: “Riêng dân tộc Việt Nam... sau lúc đánh đuổi được Pháp - Nhật sẽ thành lập một nước Việt Nam dân chủ mới theo tinh thần tân dân chủ”8. Trong Chương trình Việt Minh, mục tiêu này được nói rõ hơn như sau: “Sau khi đánh đuổi đế quốc Pháp - Nhật sẽ thành lập một chính phủ nhân dân của Việt Nam Dân chủ cộng hòa, lấy lá cờ đỏ ngôi sao vàng năm cánh làm lá cờ toàn quốc”9.

Chủ trương trên không có nghĩa là tách rời cách mạng Việt Nam với cách mạng Lào và Campuchia, mà cách mạng ở cả ba nước vẫn có mối quan hệ mật thiết với nhau. Trung ương Đảng và Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến sự đoàn kết với nhân dân hai nước Lào và Campuchia. Các nước láng giềng này có nhiều yếu tố gần gũi, thuận lợi, bảo đảm cho sự đoàn kết, thống nhất ý chí và hành động. Đó là đều có chung kẻ thù xâm lược, có nhu cầu được giải phóng, cùng hướng tới độc lập, tự do. Pháp - Nhật là kẻ thù chung của ba dân tộc. Muốn đánh đuổi chúng, “phải có một lực lượng thống nhất của tất thảy các dân tộc Đông Dương”. Đồng thời, “với các dân tộc Miên, Lào và các dân tộc thiểu số ở Đông Dương, dân tộc Việt Nam có nghĩa vụ phải dìu dắt, giúp đỡ trong bước đường tranh đấu tự do độc lập”10 và phải có sự đoàn kết, giúp đỡ ủng hộ của phong trào cách mạng, phong trào dân chủ chống phát xít trên thế giới.

Quán triệt tư tưởng đó, Hội nghị lần này đã quyết định xây dựng mặt trận dân tộc thống nhất cho mỗi dân tộc Việt Nam, Lào, Cao Miên nhằm tạo ra sự chủ động, thức tỉnh được tinh thần dân tộc trong nhân dân. Hội nghị cho rằng, “mặt trận hiệu triệu của Đảng ta hiện nay không thể gọi như trước là mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương, mà phải đổi ra cái tên khác cho có tính dân tộc hơn, cho có một mãnh lực dễ hiệu triệu hơn và nhất là có thể thực hiện trong tình thế hiện tại”11. Từ sự phân tích và nhận định đó, Hội nghị đã thành lập Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh (Mặt trận Việt Minh). Đồng thời, chủ trương hết sức giúp đỡ các dân tộc Miên, Lào tổ chức ra Cao Miên độc lập đồng minh, Ai Lao độc lập đồng minh.

Sau khi ra đời, ngày 25-10-1941, Mặt trận Việt Minh đã công bố Chương trình hành động và nêu rõ mục tiêu của mình là: “1. Làm cho nước Việt Nam được hoàn toàn độc lập; 2. Làm cho dân Việt Nam được sung sướng tự do”12. Chương trình cũng nêu rõ: sau khi giành được chính quyền sẽ thành lập chính quyền cách mạng của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa.

Việc thành lập Mặt trận Việt Minh với chương trình hành động chung đã đáp ứng được nguyện vọng thiết tha của toàn dân tộc. Tên gọi của các đoàn thể (cứu quốc) có sức hiệu triệu, thức tỉnh quần chúng đứng dậy đấu tranh giành độc lập, tự do.

Sự thành lập Mặt trận Việt Minh đánh dấu một bước tiến mới của Đảng trong việc nhận thức vấn đề dân tộc và giai cấp trong quan hệ giữa ba nước Đông Dương. Đó cũng là sự khẳng định trong thực tế những tư tưởng đúng đắn và sáng tạo của Hồ Chí Minh về vấn đề này, một vấn đề mà có lúc đã diễn ra tranh luận gay gắt trong nội bộ những người cộng sản Việt Nam trong những năm 30 của thế kỷ XX.

Mặt trận thống nhất chống Pháp - Nhật của nhân dân Đông Dương lúc này được thể hiện trên cơ sở liên minh của mặt trận dân tộc thống nhất ở mỗi nước: Việt Nam độc lập đồng minh (Việt Minh), Ai Lao độc lập đồng minh và Cao Miên độc lập đồng minh. Thống nhất hành động chống kẻ thù chung và quyền dân tộc tự quyết được coi như nguyên tắc cao nhất trong quan hệ giữa ba dân tộc Đông Dương.

Chủ trương của Trung ương Đảng và Hồ Chí Minh trong việc giải quyết vấn đề dân tộc trong khuôn khổ từng nước Đông Dương là hoàn toàn đúng đắn, thể hiện sự nhạy bén chính trị, phù hợp với thực tiễn cách mạng Việt Nam, Đông Dương và hơn hết, chủ trương đó đã thấm nhuần một cách sâu sắc quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền tự quyết của mỗi dân tộc.

Trước hết, chủ trương giải quyết vấn đề dân tộc trong khuôn khổ từng nước ở Đông Dương xuất phát từ hoàn cảnh lịch sử, đặc điểm chính trị, kinh tế, xã hội của mỗi nước Đông Dương. Cái tên “Liên bang Đông Dương” là do thực dân Pháp lập ra vào năm 1887, bao gồm Việt Nam (bị chia ra làm 3 kỳ), Campuchia và Lào, dưới sự cai trị của một viên toàn quyền Đông Dương. Như vậy, Liên bang Đông Dương không phải là sự liên hợp tự nguyện của ba dân tộc và trên thực tế, ba nước Đông Dương vẫn tồn tại với tư cách là các quốc gia dân tộc riêng biệt, có truyền thống lịch sử, văn hóa lâu đời mà không một sức mạnh nào có thể xóa nổi.

Thực dân Pháp một mặt lập ra Liên bang Đông Dương để dễ bề cai trị nhưng mặt khác, chúng lại dùng chính sách “chia để trị” nhằm gây thù hằn, nghi kỵ giữa các dân tộc trên bán đảo Đông Dương: “Đối với các dân tộc khác nhau như Cao Miên, Lào chúng nó cũng làm cho xa cách hẳn dân Việt Nam, làm cho họ ác cảm với dân tộc Việt Nam, không có chút thiện cảm nào đối với nhau. Ly gián dân tộc để ngăn cản sự đoàn kết cách mạng của các dân tộc là một mục đích. Một mục đích nữa là đem dân tộc này bắn giết dân tộc khác... Đem lính Nam qua Miên, Lào. Đem lính Miên, Lào về Nam”13. Hành động đó của thực dân Pháp ít nhiều đã gây tổn hại đến tinh thần đoàn kết của một bộ phận đồng bào các dân tộc ở Đông Dương, nếu để kéo dài sẽ rất nguy hiểm. Đây là một cơ sở, căn cứ cho Trung ương Đảng và Hồ Chí Minh đề ra chủ trương giải quyết vấn đề dân tộc ở Đông Dương.

Thứ hai, chủ trương đó là sự vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về vấn đề độc lập dân tộc và quyền dân tộc tự quyết vào hoàn cảnh cụ thể ở Việt Nam và Đông Dương. Khi Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh vấn đề dân tộc không có nghĩa là bị chi phối bởi chủ nghĩa dân tộc cực đoan mà chính là đã vận dụng một cách sâu sắc chủ nghĩa Mác - Lênin, đã phát triển vấn đề dân tộc lên một bước mới. Trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản (1848), Mác và Ăngghen đã nêu rõ: “Cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản chống lại giai cấp tư sản, dù về mặt nội dung, không phải là một cuộc đấu tranh dân tộc, nhưng lúc đầu lại mang hình thức đấu tranh dân tộc”14. Mác và Ăngghen nhấn mạnh: “Giai cấp vô sản mỗi nước trước hết phải giành lấy chính quyền, phải tự xây dựng thành một giai cấp dân tộc, phải tự mình trở thành dân tộc”15. Theo lập luận đó thì trước hết, mỗi đảng phải chịu trách nhiệm trước vận mệnh của dân tộc mình. Giai cấp vô sản tồn tại trong từng quốc gia dân tộc, vì thế trước khi hoàn thành sứ mệnh lịch sử thế giới, giai cấp vô sản phải hoàn thành sứ mệnh lịch sử với dân tộc mình.

Sự nghiệp cách mạng mỗi nước là một bộ phận của phong trào cách mạng thế giới. Đoàn kết quốc tế là một tất yếu khách quan, là một nguyên nhân quan trọng của thắng lợi. Nhưng cách mạng không thể “xuất khẩu”, cách mạng không thể làm thay. Hơn nữa, mặc dù có chung đường lối giải phóng dân tộc do Đảng theo chủ nghĩa Mác - Lênin lãnh đạo, nhưng mỗi nước ở Đông Dương cần phải có những hình thức và bước đi thích hợp với đặc điểm của nước mình. Vận mệnh của mỗi nước phải do nhân dân nước đó quyết định. Đó là sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin về vấn đề dân tộc vào điều kiện Đông Dương và Việt Nam.

Thứ ba, chủ trương giải quyết vấn đề dân tộc trong khuôn khổ từng nước của Đảng ta là sự thể hiện tư tưởng Hồ Chí Minh - một tư tưởng nhất quán trong đường lối, chủ trương cách mạng do Người đề ra, trong các tổ chức do Người sáng lập. Người chỉ có “một sự ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”16. Và tư tưởng giành độc lập, tự do cho Tổ quốc, cho dân tộc đã trở thành phương châm chủ đạo trong toàn bộ cuộc đời, sự nghiệp hoạt động của Người.

Tại Hội nghị Trung ương lần thứ tám (tháng 5-1941), Hồ Chí Minh đã nêu cao tinh thần độc lập dân tộc, chủ trương thực hiện quyền dân tộc tự quyết đối với Lào và Cao Miên. Thực ra, ngay từ những năm 1920, trong tác phẩm Đường kách mệnh cho đến Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt; từ Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên đến Đảng Cộng sản Việt Nam, hai chữ “Việt Nam” luôn được nhấn mạnh. Người khẳng định mục tiêu của cách mạng, đó là “làm cho nước Nam hoàn toàn độc lập”. Bằng sự khẳng định này, trên thực tế, Người đã đặt vấn đề dân tộc trong khuôn khổ từng nước Đông Dương. Hồ Chí Minh đã giải thích việc đặt tên đảng là Đảng Cộng sản Việt Nam như sau: “Cái từ Đông Dương rất rộng và theo nguyên lý của chủ nghĩa Lênin, vấn đề dân tộc là một vấn đề rất nghiêm túc, người ta không thể bắt buộc các dân tộc khác gia nhập Đảng, làm như thế là trái với nguyên lý của chủ nghĩa Lênin. Còn cái từ An Nam thì hẹp, vì An Nam chỉ là miền Trung của nước Việt Nam mà thôi, và nước ta có ba miền: Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ. Do đó từ Việt Nam hợp với cả ba miền và không trái với nguyên lý Lênin về vấn đề dân tộc”17.

Với những chủ trương đúng đắn và sáng tạo trong việc giải quyết vấn đề dân tộc trong khuôn khổ từng nước Đông Dương, Hồ Chí Minh đã gắn sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam với cách mạng Lào và Campuchia, gắn sứ mệnh cách mạng của nhân dân Đông Dương với thế giới. Nói cách khác, chính Người đã “thế giới hóa” cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam nói riêng và Đông Dương nói chung, đặt sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc trong phạm trù cách mạng vô sản, biến nó thành một khâu quan trọng không thể tách rời với cách mạng vô sản thế giới.

Hội nghị Trung ương lần thứ tám (tháng 5-1941) là sự khẳng định lại một lần nữa đường lối chiến lược cách mạng giải phóng dân tộc của Đảng và Hồ Chí Minh được đề ra từ Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam đầu năm 1930. Nghị quyết của Hội nghị có vai trò, tác dụng trực tiếp đến toàn bộ sự vận động và phát triển của phong trào cách mạng nước ta nói riêng và Đông Dương nói chung, trong đó chủ trương giải quyết vấn đề độc lập dân tộc trong khuôn khổ từng nước Đông Dương là một nhân tố cơ bản quyết định thắng lợi của Cách mạng tháng Tám.

Nguyễn Văn Chung - Nhà xuất bản Chính trị quốc gia


Lần cập nhật cuối (Thứ tư, 28 Tháng 7 2010 11:07)